Xuân Bích

Xuân Bích

Lặng Bước Đêm

lặng bước đêm – khuya khoắt cuộc đời
chênh vênh tiếng nói gọi “người ơi”
nghiêng theo số phận tìm soi bóng
vẫn thoáng dung nhan cuối mặt trời

lỡ phút mê quên ngang hẹn thề
bao niêu mơ ước tạc hồn quê
giờ như chìm lắng vào ngôn ngữ
để gửi bâng quơ tiếng gọi về…

đã biết không gian vốn lạnh lùng
thời gian ai đếm nhịp buồn rung
con tim thế hệ cần hơi thở
để thổi vào nhau dưỡng khí hùng

nếp sống tình xưa xưa bốn ngàn
bốn ngàn năm ấy một trần gian
và em còn nhớ hồn dân tộc
như sóng tình quê dâng ngập tràn

những mảnh tình cài trong khúc ca
có em và có cả mầu hoa
cây tre cành trúc con đường cỏ
em có khi nào chợt nhớ ra.

Tóc Thề

tóc thề buông xõa ngang vai
bao nhiêu hứa hẹn man khai một đời
chuyện tình là chuyện muôn nơi
trăm năm riêng rẽ một trời lứa đôi
nhớ thương vây kín chỗ ngồi
bâng khuâng quên lãng một hồi sinh quen
biết nhau khung cửa sách đèn
những tờ thư lén hờn ghen học trò
nhớ xưa một thuở quạt mo
hồn nhiên trong xóm chơi trò ca dao
có em và có trời sao
bỗng nhiên giờ lại tiếc bao dại khờ
lỡ làng còn lại trong thơ
trao em lưng vốn để chờ vần lơi
thế gian ta vốn đổi rời
sao không khác lạ cho vời vợi nhau
lắng nghe trong những niềm đau
băn khoăn đứng lại nhìn sau dáng mình

Lặng Bước Đêm

lặng bước đêm – khuya khoắt cuộc đời
chênh vênh tiếng nói gọi “người ơi”
nghiêng theo số phận tìm soi bóng
vẫn thoáng dung nhan cuối mặt trời

lỡ phút mê quên ngang hẹn thề
bao niêu mơ ước tạc hồn quê
giờ như chìm lắng vào ngôn ngữ
để gửi bâng quơ tiếng gọi về…

đã biết không gian vốn lạnh lùng
thời gian ai đếm nhịp buồn rung
con tim thế hệ cần hơi thở
để thổi vào nhau dưỡng khí hùng

nếp sống tình xưa xưa bốn ngàn
bốn ngàn năm ấy một trần gian
và em còn nhớ hồn dân tộc
như sóng tình quê dâng ngập tràn

những mảnh tình cài trong khúc ca
có em và có cả mầu hoa
cây tre cành trúc con đường cỏ
em có khi nào chợt nhớ ra.

Khúc Giao Mùa

Cuối thứ bẩy – đêm côn trùng kể lể
tháng năm mòn trên hệ lụy lá xơ
chủ nhật chìm trong cơn nhớ vỡ bờ
lời định nghĩa trơ vơ thềm thư viện
chân lữ thứ đi trên giầy kỷ niệm
khúc giao mùa còn hát đuổi nhau chơi
những tình nhân chưa quên phút nghẹn lời
chưa nguôi được niềm vui thai nghén cũ
nghe vời vợi trên vai trần giấc ngủ
những vòng tay âu yếm thuở vào nôi
và mùi thơm trên môi má cuộc đời
chân dẫm nát những ru hời dưới bóng
xoay rạo rực cho nghi ngờ cô đọng
những bàn tay gian dối tự bao giờ
vun đam mê theo nhịp thở thờ ơ
đêm bốc cháy cơn mơ hồ sa mạc
bầy chim dõi bay theo mùa cỏ rác
những mảnh đời vừa thất lạc đâu đây
vội tìm nhau chia xớt nghiệp lưu đầy
trên chiếc áo xanh rêu còn vết tích
đời bật ngã theo nhau ngày đếm lịch
đêm vong thân từng sợi xích thời gian
đi qua nhau qua những chặng bụi tàn

hôm nay nhớ như mình đang vẫn nhớ
tay dụi mắt xua tan từng bỡ ngỡ
mỗi niềm tin đều tự cứu riêng mình
mỗi lầm than đều có một hành tinh
như đã mất cả cung đình tuổi trẻ
sao không giữ lại trăng thề thế hệ
mượn cuộc chơi chia dĩ vãng làm đôi
nửa lên ngôi nửa đi xuống ngậm ngùi
đêm gái góa nuôi con bằng tủi hận
chiều biên giới mồ hôi đầm trên trán
dưới màn mưa bụi muông thú tìm ăn
khắc trên lưng đôi ba vết tục tằn
đời cơm áo vốn no lành – đói rách
thời nghiên bút thiếu chi phường đốt sách
cơn mê điên trong huyết mạch tràn tuôn
đem hoang vu đi gán nợ mất còn
ôi điên loạn cơn di truyền dã thú
đem nanh vuốt ghim trên mình lịch sử
dựng đời lên so cuồng vọng đổi trời
gom thiên thu vào rộng lớn mù khơi

ta viết ngược tên mình trên giấy lạ
song vẫn giữ nguyên hương trời cỏ lá
nhớ mặt nhau và nhớ cả gì đâu….
vẫn nguyên mình và nguyên mãi về sau.

Gió Mùa

gió mùa len lén ru hồn
cây rưng rưng lá hoàng hôn mận đào
vấn vương từ ở phương nào
theo tương tư nắng về sao lá vàng

một người hôm ấy lang thang
tìm trong hà nội áo vàng tay lơi
lạc mình trong những chơi vơi
lạc người ngay giữa những nơi hẹn hò

sương thu vời vợi giăng mờ
chiều lên ngơ ngẩn bên bờ sông đêm
lá rơi thao thức khoang thềm
tiếng ca ai rót buồn thêm đêm người

chắt chiu từ tuổi mấy mươi
bây giờ huyễn hoặc nụ cười triết nhân
phồn hoa trên ngõ phong trần
tình yêu say sóng cho vần thơ nghiêng

phía em thần thoại cồng chiêng
phía ta thu vẫn vàng riêng lá mùa
bao nhiêu hôm ấy cho vừa
để hong vơi cạn ngày xưa chúng mình

bao nhiêu cơn nhớ tội tình
rủ nhau vào nẻo quyên sinh muộn màng
hóa thân từ ngõ thôn trang
em về phố thị mang mang ngợ hờ

nửa hồn em vướng vào thơ
đôi mi xanh khép lững lờ miền xa
mùa thu năm ấy mười ba
nửa hồn em chớm ngã sa giận hờn

bây giờ em có buồn hơn
bao nhiêu thu ấy chập chờn trong mơ
áo xưa còn óng vàng tơ
hay giờ đã ngả sang ngơ ngác đời.

Hoài Thu

mỗi năm một mùa lá rụng
con người lặng lẽ xa xôi
gió mềm ru cơn thoảng nhớ
những lời chiều lạnh chơi vơi

giữa đêm lá mưa xào xạc
tình yêu ngơ ngác mơ hoang
lối xưa chập chờn bóng đổ
hồn lay đôi cánh lỡ làng

giấc mơ hồi hương khô – ướt
như từng giọt trắng long lanh
trên mệnh trầm du hoa lá
hoen nhòa hữu thể mong manh

mỗi đêm một lần thức giấc
chia đời mật mã hư vô
chia mình thời gian khuya khoắt
chia ai nghiệp dĩ thờ ơ

mùa thu nay về ngược lối
chỉ vàng trên những ngõ sâu
cỏ may ngập bờ hoang vắng
nhặt vờ mượn cớ gần nhau

những mùa thu xưa tuổi nhỏ
quê hương vàng mộng ấu thơ
tình yêu vụng thầm e ấp
băn khoăn thứ bảy học trò

Em Về

em về như cơn gió ngoài song
đánh thức cơn đau đã thuộc lòng
những phút bên nhau buồn lẩn tránh
khu vườn thương nhớ lại vào đông

em về như giọt nắng pha sương
ướt thảm tương tư ướt cỏ trường
năm tháng chung đường vui đại học
nhưng rồi hai đứa lại hai phương

em về đong lại một đầy vơi
giếng mắt sâu dung chứa cuộc đời
vẫn giấu cho nhau lời uẩn ức
chia hoài con số lẻ phân đôi

bao giờ bôi xóa được hoài nghi
và để em nghe hết những gì
và để em không còn lưỡng lự
không còn lần nữa tiễn em đi

khi nào em trở lại quê này
đời vốn vô thường sao chẳng hay
sao vẫn phiền nhau câu hỏi ấy
cuộc đời muôn nẻo lối mây bay

em về ta ở lại hoàng hôn
mầu nắng sa – tan vẫn đủ buồn
thiêu cháy một khoang nhìn ảo tượng
khi mình rất thật một cô đơn

Bóng Lẻ Mùa Đông

Đông về chín lạnh miền xanh
chiều đơn bảng lảng trên cành hở hang
lá rơi rơi vướng ngỡ ngàng
chênh vênh ý nghĩ từng trang vô đề

mắt nai và cõi đam mê
thu hình đêm ủ trên hè lá khô
nghe quen xào xạc bây giờ
âm thanh vọng tới biên bờ ngày sau

tim ta còn lại vết đau
chờ thoa hơi ấm cau trầu thuyền quyên
gói nguyên câu nói tật nguyền
vào đêm chôn cất từng phiên lạc loài

mùa thu chưa dối gạt ai
sao mùa đông nỡ khổ sai hợp đề
tóc xưa buông chạm lời thề
trăng mười sáu vụng về khoe dáng buồn

giọt sương chiều gội hoàng hôn
trầm tư bóng lẻ như còn thôi miên
bên ngoài gió thổi nhiều thêm
bên trong lũng nhớ về đêm bão hòa

Xuân Bích

Vương Đàm

Vương ĐàmGốc

Giá Trị Huyền Sử Việt

Giữa Huyền sử Việt và huyền sử Mường có nhiều nhân vật gần giống nhau: Lạc Long Quân có tên gần như dịch âm sang chữ nho từ ba tiếng Lang Cun Cần. Cuộc đời của Lạc Long Quân bất tử, cuộc đời của Lang Cun Cần cũng bất tử.
Những nhân vật như: bà Thu Thiên, bà Da Dần, nàng Ả, nàng Dật Cái Dành, thằng Bờm, Toóng In, Rùa Vàng v..v… có trong huyền sử Mường, tuy không hoàn toàn, nhưng cũng gần giống với các nhân vật: bà Âu Cơ, bà Thiếu Hoa (tổ nghề dệt lụa làng Cổ Ðô, Hà Tây), thằng Bờm, Thủy Tinh, thần Kim Qui v..v… của huyền sử Việt. Trứng chim “chín cạnh bảy góc” nở ra nhiều giống người cũng không khác mấy so với “bọc trăm trứng nở trăm con” của huyền sử Việt. Các hiện tượng sinh thái như cây si, cây chu của Mường cũng gần giống như cây chiên đàn của Việt. Chim Tùng, chim Tót có trong huyền sử Mường khiến cho người ta liên tưởng tới chim Hồng, chim Lạc là hai thứ chim tượng trưng cho giòng giống Việt Nam, nhiều người Việt không quên câu “Việt điểu sào nam chi” (chim Việt làm tổ cành phía nam).
Nội dung chính của hai huyền sử Việt và Mường khác nhau ở chỗ: huyền sử Việt như đóa hoa thơm tỏa hương mời gọi mọi người vào trong cộng đồng: hợp chủng, hợp nhất, bình đẳng, tương thân. Trái lại huyền sử Mường như tòa thạch trụ kiên cố, tạo nên sức mạnh tự chủ để bảo vệ.
Quan niệm của Việt là:
” Ở đời muôn sự của chung,
Hơn nhau một tiếng anh hùng mà thôi”.
Quan niệm của Mường là:
” Lúa ở mường Trời,
Nghe lời mường con gọi,
Lúa về mường này làm giàu làm có.
Bao nhiêu khốn khó bay về mường xa”.
Huyền sử Việt đã trải qua giai đoạn “lột xác” để vươn cao hòa đồng, để có sắc thái nhân sinh quảng đại, gắn bó nhiều chủng tộc Việt như một chủng tộc trong cuộc sống càng ngày càng tiến bộ, liên kết, hợp quần giữa con người và con người.
Buổi tương cận giữa huyền sử Việt và huyền sử Mường là khi các khu vực quần thể dân tộc còn ở các điểm: vùng châu thổ sông Hồng, sông Thái Bình, sông Mã, sông Cả cùng một số đảo thuộc vịnh Hạ Long. Vào thời cổ cư dân sống tại các vùng nói trên chưa có sự giao lưu nhiều. Ðặc biệt sinh hoạt cư dân Việt miền trung bộ sông Hồng có môi trường thuận tiện để tiếp xúc, giao lưu sớm với các cư dân Việt miền thượng nguồn sông Hồng, miền Lĩnh Nam, đồng thời lại tiếp cận hòa hợp rộng lớn với các quần thể cư dân Việt các vùng trung du, duyên hải và hải đảo cùng nhiều dân các nơi phương xa tới lưu trú. Huyền sử Việt vì thế ngay từ thuở ban đầu, thay đổi biến hóa để phù hợp với nhiều huyền sử Việt khác. Trong khi đó huyền sử Mường tồn tại với tính chất thuần túy chủng tộc, bảo tồn truyền thống các cư dân tiếp cận rừng núi như Thanh Hóa, Hòa Bình, Sơn Tây, Phú Thọ, Việt Trì, Sơn La. Ðặc biệt các vùng đất có dân tộc Mường cư trú, về phong tục tập quán bảo vệ được nhiều sinh thái cổ. Ðó là các vùng có địa lý sinh hoạt vừa có tính chất tài nguyên tự túc vừa có địa hình hẻo lánh (thí dụ vùng mường Pi ở Hòa Bình).

Tháp Bút bên bờ hồ Hoàn Kiếm Hà Nội
trên thân tháp có ba chữ nho ngụ ý viết
lên trời: tả thanh thiên
Sách “Lĩnh Nam chích quái” viết về huyền sử Việt:
“Âu Cơ ở với Lạc Long Quân giáp một năm, sinh ra một bọc trăm trứng, cho là điềm không hay nên đem bỏ ra ngoài đồng nội. Hơn bảy ngày, trong bọc nở ra một trăm trứng, mỗi trứng là một con trai, đem về nuôi nấng không phải cho ăn, cho bú, mà tự nhiên cao lớn, tài trí song toàn, ai cũng mến phục, bảo nhau đó là những anh em phi thường… Lạc Long Quân hay đi và ở lâu dưới thủy cung, mẹ con Âu Cơ kéo nhau lên biên giới phía Bắc. Hoàng Ðế nghe tin lấy làm sợ mới đem binh trấn ngự quan tái. Mẹ con không tiến về phương Bắc được, đêm ngày gọi Long Quân:
-Bố ở phương nào làm mẹ con ta thương nhớ?
Lạc Long Quân hốt nhiên lại đến, gặp vợ và các con ở Tương Dạ. Âu Cơ nói:
-Thiếp vốn người gốc trên đất, cùng ở một nơi với chàng, sinh được một trăm trai mà không có gì nuôi dưỡng, xin cùng theo nhau, chớ nên xa cách bỏ nhau khiến cho mẹ con thiếp không chồng, không cha, sống vò võ bơ vơ.
Long Quân bảo:
Ta là loài Rồng sinh trưởng ở thủy tộc. Nàng là giống Tiên người ở trên đất, vốn chẳng như nhau, tuy rằng khí âm dương hòa hợp lại mà có con, nhưng khác loài, thủy hỏa tương khắc, khó mà ở cùng nhau lâu dài. Bây giờ phải ly biệt, ta đem năm mươi con về biển phân trị các xứ, năm mươi con theo nàng ở trên đất, chia nước mà cai trị, dù lên núi xuống nước, nhưng có việc gì thì cùng nghe không được bỏ nhau”.
Ðọc huyền sử “cha Rồng mẹ Tiên” thấy chính Lạc Long Quân nói với Âu Cơ: “-Ta là loài Rồng sinh trưởng ở thủy tộc, nàng là giống Tiên người ở trên đất”. Rõ ràng nhân vật hệ trọng nhất trong huyền sử đã tự xác nhận chính bản thân mình thuộc giòng giống loài Rồng sinh trưởng ở thủy tộc. Rồng là đệ nhất trong bốn linh vật, từ xưa là một linh vật tưởng tượng của người Á Ðông tượng trưng cho trời, mây, nước, qua những thay đổi biến hiện hình sắc. Rồng cũng là linh vật tối linh, cao quí đối với con người, thường người xưa cũng cho rằng các bậc minh quân hoàng đế đem lại hạnh phúc cho lê dân là những bậc có tướng diện như rồng. Hiển nhiên lời nói của Lạc Long Quân đầy đủ sự chính xác để xóa bỏ những giòng huyền sử ngụy tạo: Ðế Minh sinh ra Lộc Tục (Kinh Dương Vương) và Lộc Tục sinh ra Sùng Lãm (Lạc Long Quân). Khi tự thân huyền sử đã xác định cho chính huyền sử, không có giòng sử nào có thể xuyên tạc được.
Sự kết hợp giữa Rồng của trời, mây, nước với Tiên trong đất mà sinh ra “bọc trăm trứng” rồi nở ra “trăm con trai”.
Trời, mây, nước và đất được nhân cách hóa trong huyền sử theo trí tưởng tượng của người xưa. Hai tên gọi tôn kính cùng trừu mến: Lạc Long Quân và Âu Cơ là hai tên gọi chỉ Trời và Ðất chuyển biến theo thời gian, vừa nhân cách vừa thần linh hóa của huyền sử. Không ai có thể chối cãi: Ðất cần có Nước, ánh sáng và không khí mới nảy sinh thực vật, động vật. Và nhiều loại động vật phải có mặt trên trái đất trước khi có con người.
Cái “bọc trăm trứng” cũng nên hiểu là khoảng không gian to rộng bao la gồm ánh sáng, thời tiết, không khí. “Hơn bảy ngày trứng nở” cũng ngầm hiểu mỗi ngày của huyền sử dài hàng triệu năm, tương tự như bảy ngày tạo ra trời, đất và người của huyền sử Kitô giáo.
Vị vua Hùng đầu tiên của giòng họ Hồng Bàng (Hồng ngụ ý tươi hồng rực rỡ, Bàng là rộng lớn. Nghĩa rộng là vừng hồng thái dương lúc bình minh lan tỏa khắp nơi), chắc không phải là người con trưởng ở trong số trăm con. Vì “bọc trăm trứng” khi Âu Cơ sinh ra rồi đem bỏ ra ngoài đồng nội, hẳn chẳng thể có ai làm chứng nhân để biết: – Trứng nào nở trước? – Ai trưởng? – Ai thứ? Suy luận như thế mong thấy lẽ công bằng, hợp lý của huyền sử đối với các chủng tộc trong cộng đồng dân tộc. Huyền sử Việt không thấy có sự phân biệt kỳ thị nào. Nó cũng ngụ ý: bọc sinh trăm trai tất không thể sinh ra các con cháu về sau, sẽ phải kết hợp với các giống nữ các giống người khác. Ngay từ khởi thủy giống Việt đã là sự kết hợp của nhiều chủng tộc.
Chủ thuyết và chế độ phong kiến bất động không tiến bộ, nhưng nó đã tồn tại trong cõi nhân thế Á Ðông khoảng hai nghìn năm. Chính nó là thủ phạm làm huyền sử Việt bị xuyên tạc và bị bôi nhọ. Huyền sử Việt đã phải chấp nhận thời gian dài những phi lý và bất xứng.
Những nhận xét chân thực và rõ ràng về huyền sử Việt, căn cứ ở ba điểm:
1. Huyền sử Việt nêu tính chung một gốc của mọi người dân Việt, dù con người đã có từ thuở mới có đất nước, hay sau này mới tới để hội nhập.
2. Huyền sử xác nhận sự bình đẳng giữa con người và con người.
3. Huyền sử đề cao tương thân và đoàn kết, dù “trăm trứng trăm con” nhưng vẫn chung “một bọc”. Khi đã biết đoàn kết thì tản ra để sống; sống với đất và sống với biển, tới khi hữu sự thì tương thân, vẫn là những người con chung một gốc kết hợp lại, vượt qua mọi tai họa.
Ý nghĩa huyền sử Việt có tầm nhận định cao: Trời, Mây, Nước và Ðất sinh ra con người cũng tương tự như Thích Ca giải thích: con người là tứ đại thể gồm đất, nước, gió, lửa. Ý nghĩa ấy không khác theo nhận thức của người Kitô giáo: con người do từ cát bụi mà có.

Truyện tích “Trầu cau” là một trong những truyện tích thời cổ. Nội dung truyện tích đưa ra các bi thiết tình nghĩa để rồi phân định tình nghĩa liên hệ giữa con người và con người. Trước hết con người có trách nhiệm với chính bản thân về tình cảm, đạo lý để định hướng tình cảm, thành lập gia đình. Từ gia đình con người hiểu: đạo lý ông cha, đạo vợ chồng, tình nghĩa anh em, mến yêu quê hương, rồi từ những tình cảm ấy cảm nhận rộng ra tình yêu tổ quốc, đồng bào cùng tình yêu nhân quần xã hội. Truyện tích “Trầu cau” kể:
” Thời xa xưa, có một vị quan lang dáng người cao lớn, vua ban cho họ Cao. Ông có hai con trai tên là Tân và Lang diện mạo thật giống nhau. Hai anh em theo học nhà đạo sĩ họ Lưu. Họ Lưu cũng có người con gái cùng trang lứa tuổi với hai anh em họ Cao. Sau thời gian ngắn, người con gái muốn kết hôn với một trong hai người anh em họ Cao. Nhưng nàng cần phải chọn người anh, nên đem một bát cháo lên mời hai người ăn. Thấy người em nhường cho người anh ăn trước, nàng ghi nhớ diện mạo người anh và trình bày ý định của nàng cùng cha mẹ. Cha mẹ nàng cũng đồng ý gả con gái cho người anh. Sau khi cưới nhau tình nghĩa vợ chồng ăn ở thắm thiết.
Người em thấy từ khi người anh có vợ, tình cảm người anh đối xử với mình không bằng xưa, buồn rầu rồi bỏ đi. Khi người em đi tới bờ sông hết đường đi, ngồi than khóc rồi chết, hóa thành cây cau. Thấy mất em, người anh đi tìm em tới bờ sông cũng buồn rầu, ngồi tựa lưng vào cây cau rồi chết hóa thành tảng đá. Vợ người anh đi tìm chồng, tới bờ sông cũng lại buồn rầu và chết hóa thành dây trầu bò leo lên trên tảng đá. Vợ chồng nhà đạo sĩ họ Lưu đi tìm con gái, con rể và học trò, khi đến bờ sông hỏi ra mới biết sự tình, than khóc và lập đền thờ tại đó. Dân gian bấy giờ ai đi qua nơi ấy cũng cảm xót anh em, vợ chồng tình nghĩa mặn nồng chung thủy, đều vào đền đốt cỏ thơm van vái cúng lễ.
Về sau vua Hùng đi tuần trong nước, khi đi qua chỗ đền này vào trú chân nghỉ mát, vua nhìn thấy có cây cau, dây trầu, tảng đá lạ mọc đan kết lại với nhau, vua hỏi ra mới biết sự tích như trên. Vua truyền lệnh cho cận thần hái trái cau, lá trầu, nhai rồi nhổ lên trên đá, thấy hiện ra sắc đỏ thắm, thoảng có mùi thơm.
Vua về triều bèn ban lệnh khuyên nhân gian: phàm các việc lễ tục, cưới hỏi, hội họp đều phải lấy trầu cau ăn để mở đầu mọi việc. Người nước Việt có tục ăn trầu từ đấy”.
(Theo “Lĩnh Nam chích quái”)
Mỗi công dân Việt đều có niềm tự hào dân tộc mình có gần năm nghìn năm văn hiến. Song nếu có người đặt câu hỏi:
-Sự nghiệp văn hiến ấy bắt đầu từ cái gì? Và từ lúc nào? Thật khó có thể trả lời. Hầu như chúng ta phải dựa vào thời gian lập nước và những giá trị lịch sử không rõ là thực của ta hay đã phải vay mượn của nước khác. Các triều đại thời Hùng đã có tổ chức triều chính, kỷ cương xã hội, sinh hoạt văn hóa, học hành đạo lý tức là đã có “Văn Hiến”, (cách nay hàng nhiều trăm năm nhiều người đã nói: “nước Việt có bốn nghìn năm văn hiến”, cho tới nay nhiều người vẫn nói: “bốn nghìn năm văn hiến”, có lẽ nhiều trăm năm sau người ta vẫn cứ nói “bốn nghìn năm văn hiến”, chính là chỉ vì người ta không tự tìm hiểu nước Việt bắt đầu có văn hiến từ mốc thời gian lịch sử là bao giờ?).
Tục lệ ăn trầu cau, rất nhiều dân tộc miền Ðông Nam Á có. Ðặc biệt dân tộc Việt có tục ăn trầu cũng từ rất lâu đời. Trong cuộc bang giao Việt tặng Trung Quốc chim trĩ trắng đời Thành Vương nhà Chu, đã thấy sứ giả Việt giải thích tới bang giao vì “biển không nổi sóng đã ba năm” (ngụ ý thanh bình, miền biên giới phía bắc không có giặc), mục đích để thảo luận tìm chân lý cho hòa bình, trong đó có nói tới việc “ăn trầu”. Trong truyện tích “trầu cau” nói: vua Hùng đi tuần và phát kiến ra việc ăn trầu, ban truyền lệnh ăn trầu. Việc vua ban lệnh ăn trầu, vào thời cổ xưa có thể là sự thực, hoặc nếu vua không ban lệnh chăng nữa, tục ăn trầu đã là quốc lệ từ lâu, từ thời Hồng Bàng.
Thoạt mới nghe truyện tích “trầu cau”, nội dung chỉ như là một trong số những câu chuyện tình duyên ngang trái, trắc trở. Sau nhận định kỹ, cũng chẳng có gì là ngang trái, trắc trở. Người anh kết hôn với người con gái thầy dạy học, hợp lý, hợp tình, không có ai ngăn cản. Người em bỏ đi rồi chết không phải là thất tình vì mất người yêu. Người em ra đi chỉ vì cảm thấy mất tình anh em. Sự ra đi ấy chính là sự ra đi mà người em nghĩ đi để tìm khuây khỏa khi tình anh em đã phai nhạt, đã mất, có sống cũng không còn ý vị gì nữa. Tới bờ sông hết đường đi, người em tuyệt vọng mà chết. Khi người anh đã mất em, cũng ra đi để tìm lại tình anh em thực sự đã mất, tới bờ sông, thực tế hiện ra: nước chảy mênh mông, sóng cuộn nước trôi, hình bóng người em không thấy, tâm trạng bơ vơ chỉ còn biết ngồi tựa vào thân cây rồi chết. Vợ người anh đi tìm chồng, vì nàng vừa mất một thứ tình mới lạ và say đắm nhất, kể từ khi cha mẹ sinh ra, với nàng tình nghĩa vợ chồng là tình nghĩa đặt nền cho mọi tương lai hạnh phúc mai sau, thiếu nó nàng cũng không thể sống được. Nàng phải đi tìm lại cho bằng được. Khi gặp dòng sông chắn ngang, tuyệt vọng nàng tựa mình ngồi cạnh tảng đá, thân cây mà chết.
Vợ chồng người thầy dạy học họ Lưu đi tìm con gái, con rể và học trò, vì những thứ tình cảm ấy đan kết nhau trong cuộc sống con người, nếu bị mất đi, xã hội đời sống con người sẽ bị hạ thấp xuống gần ngang với xã hội loài vật. Khi tới bờ sông vợ chồng người thầy dạy học, nhìn cây, nhìn đá mọc quấn quýt lạ lùng xen nhau, lại được nghe thuật lại từ những người biết chuyện. Ở nơi đó người thầy dạy học đã suy tôn tình nghĩa chung thủy cao đẹp của con, của học trò bằng cách lập đền thờ. Nhưng ông cũng đã khóc. Ông khóc vì những thứ tình nghĩa cao quí của con, của học trò chưa được khai thông, chưa tìm thấy hướng đi để thăng hoa, để cuộc sống con người không bị rơi vào cõi chết bi thiết về các tình cảm cao quí, để đáng lý ra, những cây những đá vô tri trở thành những mầm sống tốt tươi cho tương lai cuộc đời. Mọi người dân khi đi qua đó, vào đền đốt cỏ thơm, van vái cũng chỉ để chiêm bái những tình nghĩa cao quí và suy tư những tình cảm cần dung hòa cùng và đúng theo lý trí con người.
Tới khi vua Hùng đi qua, nhìn thấy đền thờ và nghe được tình tiết câu chuyện, nhìn cảnh cây và đá gần gũi, quấn quýt bên nhau, nhà vua đã tóm thâu được trọn vẹn nguyên lý cơ bản xây dựng cuộc sống con người. Vua Hùng đang có trách nhiệm nặng nề nhất nước, trong việc xây dựng xã hội có nếp sống tình cảm lành mạnh cao đẹp. Nhà vua ý thức rõ: tình vợ chồng là đầu mối mọi thứ tình cảm: cha con, mẹ con, thầy trò, anh em, bè bạn, đồng bào, vua tôi, quê hương, tổ quốc, xã hội… Nếu con người không tôn trọng tình vợ chồng, cha con, anh em trong gia đình thì không thể nào có được và làm tròn bổn phận được đối với những tình yêu khác. Không có tình yêu anh em, tất không có tình yêu đồng bào, đồng đội. Không có tình thầy trò cũng sẽ không có văn hóa, lễ nghĩa, tiến bộ, để con người có thể xứng đáng là con người. Và các tình yêu tổ tiên, cha mẹ, nhà cửa, quê hương nếu không có hẳn cũng không thể có tình yêu đất nước và tổ quốc.
Sự phân định tình cảm trong gia đình không thể để tình cảm che khuất lý trí, mọi sự buông lỏng hay gò bó quá độ giáo dục và nuôi dưỡng cả hai mặt lý trí, tình cảm, sẽ dẫn tới sự tai họa lớn hay nhỏ ở gia đình tuỳ theo bị ảnh hưởng xấu nhiều hay ít. Vua Hùng trong sự mục kiến bi kịch về tình vợ chồng, tình anh em qua truyện tích “Trầu cau”, nhà vua đã ý thức rõ: tình vợ chồng là nền tảng khởi đầu cho gia đình, khi gia đình sung mãn cần nhân hoá thành nhiều gia đình tiếp nối. Gia đình là nguyên tố tối ưu nuôi dưỡng, giáo dục con người tích lũy nên sự xây dựng xã hội, đất nước. Xã hội hoàn toàn bất lực trong việc dưỡng giáo con cái trong gia đình ở thời kỳ thơ ấu và thiếu niên. Một đất nước, một xã hội đánh mất lý trí, tình cảm nền tảng giá trị gia đình, hậu quả tất yếu xã hội đó sẽ bị hoang loạn và sụp đổ.
Những tình cảm trên luôn cần thiết và gắn bó với con người. Gắn bó bằng cách người ta ăn trầu để luôn nghĩ tới chúng, để chúng thấm sâu, hòa nhập trong cơ thể và cả trong tư tưởng con người. Ăn trầu trong lễ nghi phong tục, ăn trầu trong quan, hôn, tang, tế, ăn trầu trong hội họp thảo luận, ăn trầu trong triều chính việc nước. Muốn được khắp nơi áp dụng, chính vua Hùng đã ăn trầu khởi đầu rồi ban truyền khắp dân gian. Khi lệnh vua ban hành, toàn dân tuân theo, xã hội cùng dân nước đã hoàn thành xong nền tảng đạo lý, kỷ cương. Nếp sống xã hội con người có lễ nghi, văn hóa, lương tâm, trách nhiệm, vị tha; có kỷ cương trật tự trong các mối liên hệ nhân ái: vua tôi, thầy trò, vợ chồng, cha con, anh em, đồng bào, quê hương, tổ quốc. Ðời sống con người được xây dựng trong tòa lâu đài chan chứa tình người.
Như vậy, trước khi ở Trung Quốc có Khổng Tử ra đời đưa ra các khuôn phép kỷ cương: “quân, thần, phụ, tử” buộc chung vào sợi dây “nhân, nghĩa, lễ, trí, tín” thì ở đất nước Việt đã hình thành một nền văn hiến đầy đủ, toàn vẹn.
Tình cảm người dân Việt, ở những thế hệ sau, cũng nhờ ý nghĩa “trầu cau” mà bảo tồn, nâng cao được nhiều tình cảm cao quí.
Hãy nghe người con gái hát giao duyên với người con trai qua miếng trầu:
“Trầu này trầu tính trầu tình,
Ăn vào vào cho đỏ môi mình môi ta.
Trầu này mới hái đêm qua,
Ăn vào cho đỏ môi ta môi mình”.
Khi tình cảm con người đã tiến xa hơn, ý nghĩa “trầu cau”, cần phân tích và cũng cần có cả lý trí, tư duy:
“Này là trầu túi, trầu khăn,
Cùng trầu giải yếm anh ăn trầu nào?”
Qua lời mời “miếng trầu” dàn trải sự lựa chọn, đúng cách, hợp tình cảm, lại cần tỏ thái độ thanh lịch, chàng trai trước mắt xanh người đẹp đã biết trả lời:
“Trầu túi thì để phần cha,
Trầu khăn phần mẹ, đôi ta trầu này!”
Câu hỏi bài toán tình cảm đã được giải đáp, “miếng trầu” tình yêu chẳng cần phải nói đúng tên là “trầu giải yếm”, chàng chắc cũng được nàng thân ái mời trao miếng trầu có “hương vị tình yêu” mà chàng mong muốn!
Nói đơn giản “miếng trầu là đầu câu chuyện”, trong thực tế khi người xưa ăn miếng trầu, suy nghĩ, tìm hiểu, khám phá ra rất nhiều vấn đề, tính chất ăn trầu khác với ăn các thực phẩm: cá, thịt, cơm, canh cho ngon, cho no bụng, bồi dưỡng cơ thể. Tính chất ăn trầu chú ý sự “ăn có nhai nói có nghĩ”, bồi dưỡng lý trí, nên tình giao duyên người xưa còn thể hiện:
“Nàng về ta chẳng cho về,
Ta nắm vạt áo ta đề bài thơ”.
Người bị nắm vạt áo, dù là phái nữ thơ ngây, cũng không lúng túng thẹn thùng, bối rối, vì người ấy là con cháu của các bà Trưng, bà Triệu, là công dân của dân tộc từng có nền văn minh “ấn đồng thao xanh” từ thuở vua Hùng dựng nước. Người con gái đã bình tĩnh trả lời ngưòi định nắm vạt áo mình:
“Bài thơ “ba chữ”rành rành:
Chữ “trung”, chữ “hiếu”, chữ “tình”, ai ơi!”.
Ðể những công dân Việt khi bắt đầu cảm nhận tình yêu đôi lứa, cũng là khi bắt đầu trưởng thành bước chân vào ngưỡng cửa cuộc đời, nhận thức được:
“Chữ “hiếu” thì để phần cha,
Chữ “trung” phần nước, đôi ta chữ “tình”.
Là xứ nông nghiệp trồng lúa nước, từ xa xưa dân Việt có truyện tích thần Lúa:
“Vào thời rất xa xưa, các loại cây ăn quả tự nhiên mà có, người ta chưa phải trồng cây. Các thứ cây có quả tự tìm về mọc ngay bên cạnh người.
Có một người đàn ông vào rừng gặp một hạt lúa, ông ta xem xét kỹ biết ngay là hạt quí, có thể nuôi sống người. Ông đi tìm những hạt thóc quí ấy ở trong rừng rồi khuyên mời chúng mọc tại quanh nhà. Ông được mọi người gọi là thần Lúa. Hạt lúa ngày ấy rất to. Ông thần Lúa có nhiều lúa để ăn và còn ban phát cho mọi nhà đều có lúa ăn. Vợ thần Lúa là người lười biếng, một hôm chồng có việc đi xa, bà vợ ở nhà đang gội đầu thì tới giờ lúa chín chạy vào nhà. Các loại lúa thi nhau vào chật nhà, đầy sân, khắp cả vườn, ngõ. Vợ thần Lúa đang gội đầu lúa cũng chạy tràn vào ngập cả lối đi, tràn cả vào chỗ gội đầu. Vốn tính lười lại hay nổi nóng, bà vợ thần Lúa nổi giận lấy đòn gánh đánh đuổi họ hàng nhà lúa ra khỏi nhà. Khi thần Lúa trở về thấy lúa không còn về nhà nữa, mọi người không còn lúa ăn. Ông lại vào rừng kêu nài, năn nỉ lúa về, nhưng lúa nhất định không chịu về. Tuy thế, lúa cũng thương cho mọi người không có gì ăn để sống, lúa chỉ bằng lòng cho người ăn nếu mọi người chăm chỉ gieo giống, cày cấy, vun xới lúa, hết lòng chăm sóc lúa, biết quí và không phũ phàng với lúa, lúa sẽ cho người ăn để sống. Từ đó thần Lúa dạy mọi người cách trồng lúa. Ai ai cũng phải chăm chỉ cày cấy mới có lúa ăn và hạt lúa so với trước kia cũng nhỏ hơn nhiều”.
Truyện tích thần Lúa thường được nghe người dân miền đất Tổ ở Việt Trì, Phú Thọ kể lại, nội dung như cảnh giác con người trước trách nhiệm sản xuất thực phẩm nuôi sống con người. Ngũ cốc có nghĩa chỉ về năm thứ lúa, trên thực tế, lúa là nền tảng bắt nguồn mọi kế hoạch tiến bộ. Câu ca dao cổ của người Việt, xuất phát từ căn bản cuộc sống nông nghiệp khẳng định:
“Nhất niên chi kế mạc như chủng cốc,
Thập niên chi kế mạc như chủng mộc,
Bách niên chi kế mạc như thụ nhân”.
Có nghĩa: “Làm kế hoạch một năm thì trồng lúa gạo. Làm kế hoạch mười năm thì trồng cây. Làm kế hoạch trăm năm thì nuôi dạy con người”.
Vì thế, nếu người ta cứ quên đi kế hoạch một năm không trồng lúa để nuôi sống con người, con người không đủ lương thực để ăn, mà lại vội thực hiện các kế hoạch khác thì xã hội con người không thể thực hiện bất cứ ước mơ nào, không thể có bất cứ kế hoạch nào thành đạt mà con người mong muốn. Và nếu người ta coi việc nuôi dạy con người như trồng một cái cây thì sự giáo dục, bồi dưỡng nhân bản con người không tránh khỏi nhiều khiếm khuyết.
Ðền Hùng ở vào giữa hai thị trấn Việt Trì và Phú Thọ, cách mỗi nơi khoảng mười cây số. Trên đỉnh núi có đền Thượng. Tương truyền ngôi đền này có từ khi mới dựng nước, là nơi vua Hùng thờ trời, truyền mãi lệ thờ cho các đời sau, nên đền Thượng còn có những tên như: “kính thiên lĩnh điện” và “cửu trùng tiên điện”. Cũng từ ngày xưa, trên bàn thờ ngoài hình tượng thờ trời, còn thờ một hòn đá lớn trông giống hạt lúa, tượng trưng cho thờ thần Lúa. Tại đây cũng là nơi các vua Hùng cầu trời, cầu Lạc Long Quân mỗi khi có việc hệ trọng. Thí dụ như việc cầu trời giúp đánh giặc Ân. Trong đền có bức hoành phi đề bốn chữ “Nam Việt triệu Tổ”. Có ý nghĩa là nơi thờ tất cả những vị Tổ tiên liệt gây dựng nên nước Việt.
Nhân dân Việt ở thời cổ coi thần Lúa như vị thần đáng quí, đáng kính, được cùng thờ trong ngôi đền thờ trời và Lạc Long Quân. Tính chất truyền thuyết điển tích thần Lúa của Việt khác hẳn với điển tích Thần Nông của Trung Quốc. Bọn thái thú, thứ sử Tàu sang đất Việt, phải chăng chúng thấy dân Việt tôn thờ thần Lúa, chúng đã khôn khéo lợi dụng, chúng đã xuyên tạc lịch sử tạo ra thuyết: Lạc Long Quân là con cháu mấy ông vua Tàu thuộc họ Thần Nông?
Huyền thoại Ngư Tinh và Hồ Tinh là những huyền thoại ghi nhớ công nghiệp kỳ vĩ của Lạc Long Quân. Nhân dân Việt thường nhắc nhở:
“Ngoài biển Ðông có Ngư Tinh, mình dài hơn trăm trượng, có nhiều chân tay, hay ăn thịt người. Trên bờ biển và các đảo gần bờ, thời cổ cũng đã có người ở. Ngư Tinh trú ngụ trong hang núi, miệng và răng nhô ra ngoài biển. Thuyền bè đi lại thường bị Ngư Tinh làm hại. Dân ngoài biển muốn đi lối khác thì bị mắc cát đá không đi được. Một đêm có tiên ở trên trời xuống giúp dân, vét cát đá để dân có đường đi không bị nạn. Ngư Tinh giả làm tiếng gà gáy sáng. Các tiên nữ tưởng là trời sáng, thôi vét cát đá bay đi. Nay vẫn còn đường thuyền nhỏ đi được, gọi là đường Bụt.
Lạc Long Quân thương dân bị Ngư Tinh làm hại, làm một chiếc thuyền, lại ra lệnh cho loài quỷ Dạ Xoa dưới nước cấm thần Biển không được làm sóng gió, rồi Long Quân chèo thuyền tới núi Ngư Tinh ở, giả như đem người lại cho Ngư Tinh ăn. Ngư Tinh há miệng toan nuốt, bị Long Quân ném khối sắt nung đỏ vào miệng. Long Quân chém đứt đuôi Ngư Tinh thành đảo Bạch Long Vĩ, khúc đầu thành đảo Cẩu Ðầu, khúc mình trôi dạt vào man cầu gọi là Cẩu Man Cầu”.
(theo “Lĩnh Nam chích quái”)
Việc Lạc Long Quân diệt Hồ Tinh cũng có huyền thoại: Hồ Tây của thành Thăng Long còn có tên là Thi Hồ Trạch là nơi xưa kia Lạc Long Quân trấn yểm Hồ Tinh.
Miền đất mở đất dựng nước của dân Việt buổi đầu thuộc khu vực giao lưu các con sông: sông Hồng, sông Ðà, sông Thao, sông Lô. Các giòng sông này bắt nguồn từ các miền Vân Nam, Tứ Xuyên bên Trung Quốc, qua nhiều ghềnh núi ngăn cản chịu đựng lưu lượng khá lớn nước về mùa lũ. Nuớc lũ cao thường ứ đọng và lan tràn ngập lụt ra nhiều nơi đồng bằng. Việc đắp đê ngăn nước chống lụt, không phải chỉ có ở các thời sau. Thời thượng cổ đã có truyện tích:
“Khi bắt đầu dựng nước Văn Lang, trời muốn giúp dân Việt có địa thế vững: vừa có hình thế ngăn giữ được nước lụt, lại vừa có vị trí hiểm trở chống được giặc ngoài xâm phạm. Trời sai một chàng trai trẻ có sức mạnh đắp núi, lấp sông, từ trên trời xuống đắp thành xung quanh núi Nghĩa Lĩnh (tức núi của đền Hùng).
Chưa đầy một đêm, chàng trai nhà trời đắp được cả một dãy đồi xung quanh núi Hùng. Chàng định gánh đất nữa để ngăn nước từ phía sông chảy vào chân núi, nhưng đang gánh nửa đường thì trời sáng. Phép trời chỉ cho chàng được làm lúc ban đêm. Chàng đành phải quăng quang gánh, nằm đợi qua ngày chờ đến đêm sau sẽ làm tiếp tục. Không may gặp lúc ban ngày trời nắng quá, chỗ đất bùn chàng nằm bị khô cứng, cả người chàng dính liền vào đất, không đứng dậy được. Chàng trai nhà trời nằm mãi mãi lâu ngày rồi cũng biến thành đất. Tới nay, địa hình chỗ đất chàng nằm có hình người, mặt người hướng về núi Hùng. Hai sọt đất thành hai trái núi nhỏ. Ðòn gánh của chàng nay thành đồi, dân địa phương gọi là đồi Ðòn Gánh. Nơi chàng trai lấy đất sâu xuống nay được dân gọi là đầm Ðợi. Xã Kim Ðức thuộc huyện Phong Châu đời này tới đời khác truyền tụng câu chuyện này cho tới ngày nay”.
(theo truyền thuyết dân Phong Châu tỉnh Phú Thọ)
Các huyền thoại lịch sử Việt có rất nhiều, ngoài khu vực quanh thủ đô nuớc Văn Lang ngày xưa, nhiều khu vực khác cũng có nhiều huyền thoại. Các huyền thoại đều có giá trị bảo lưu nền văn hóa buổi đầu của đất nước. Thời gian bắt đầu có nước, chưa bị ảnh hưởng Khổng học, sơ đẳng về khái niệm “con người” được coi là nguyên nhân, là mô hình để bắt nguồn cho muôn việc, muôn sự ở đời. Có “con người” mới có tất cả và tất cả do con người, vì con người.
Cũng từ “con nguời” người ta nhìn thấy và biết được, làm được những giá trị, sự nghiệp tuyệt vời trong cuộc sống. Như chàng trai nhà trời thuở khai nước lập dân đã gánh đất đắp thành quanh đền Hùng, để rồi nằm với đất thành đất, thành nước. Nét nhân bản do từ vũ trụ bao la hiện thành mà mỗi “con người” là một vũ trụ thu nhỏ. Người dân Việt luôn tự xác định được giá trị nhân bản, mỗi khi họ dùng từ “mình” để chỉ chính bản thân, chính “con người” của họ. Khi một lứa đôi trai gái lớn lên yêu nhau thì từ “mình” ấy lại rất mực vị tha. Trong tình yêu họ sẽ nói với nhau “anh của em” và “em của anh”; nghĩa là “con người” của chính mình lại thuộc về người mình yêu. Nhưng tới khi đã thành vợ, thành chồng thì cả hai người lại chỉ còn như là một người. Ðó là giá trị cùng ý nghĩa khi thấy các cặp vợ chồng Việt: vợ gọi chồng là “mình” và chồng cũng gọi vợ là “mình”. Diễn biến ngôn ngữ sẽ lại thay đổi khi hai vợ chồng bắt đầu có con, họ gọi nhau nhưng lại như nhắc nhở lẫn nhau rằng: cả hai đã thuộc về con. Vợ chồng xưng hô cùng nhau bằng ba tiếng “bố thằng Cu” hoặc “mẹ con Tí” v..v… Ngầm hiểu như cả hai người chồng và vợ đều thuộc về con của nhau, hy sinh vì con. Trong gia đình các liên hệ huyết thống, tình cảm cũng được coi là các bộ phận của thân thể “con người”, thường cha mẹ được coi như cái đầu, vì ngạn ngữ có câu: “áo mặc không qua khỏi đầu” để xác định sự tôn kính của con cái đối với cha mẹ; còn anh chị em trong nhà được coi như chân tay cũng do câu: “anh em như thể chân tay”.
Ðất nước, xã hội cũng từ “con người” làm mô hình căn bản, qua gia đình, xây dựng nên đất nước xã hội. Người ta khuyến khích cố gắng giữa “con người” và “con người” nên coi nhau như anh em ruột thịt một nhà. Ngôn từ giao tế với nhau ngoài xã hội của người Việt hầu như không thấy có trong đất nước, xã hội, nào khác trên thế giới. Trong mọi sinh hoạt giao tế ngoài xã hội, người Việt xưng hô với nhau như người chung hệ thống huyết tộc trong hệ thống gia đình, với các danh xưng: cụ, ông, bà, bác, bố, mẹ, chú, cô, cậu, dì, mợ, dượng, anh, em, con, cháu… để chào hỏi, giao dịch, nói chuyện với nhau trong mọi giao tế sinh hoạt xã hội, dù trong thực tế họ không có bất cứ liên hệ huyết thống thân thích nào về gia tộc, không thực sự là cha, mẹ, anh, em, con, cháu… của nhau. Ðã là người dân Việt không ai không biết câu ca dao: “Thương người như thể thương thân”. Qua ngôn ngữ giao tế ngoài đời như trên, chính thức người Việt đã gia đình hóa xã hội.
Cũng như câu ca dao dưới đây có triết lý sống khá sâu sắc:
“Thương người, người lại thương ta,
Ghét người thì lại hóa ra ghét mình”.
Ba từ “tình đồng bào” của người Việt hiện ra trong tâm hồn mỗi công dân Việt: cô đọng, thiêng liêng, trữ tình nhưng lại rất thực tế đúng với ý nghĩa huyền sử. Vì rằng: “đồng bào” có nghĩa là chung nhau một một vỏ bọc, hiểu cách điệu thì là chung nhau một màu da. Vỏ bọc của huyền sử là “vỏ bọc trăm trứng” nên ngoài ý nghĩa đồng bào thông thường còn gắn thêm tình đồng bào chung “một bọc trăm trứng nở trăm con” có ở tình cảm người công dân dân tộc Việt.
Tình tự đồng bào như trên khiến người Việt mau chóng trắc ẩn tâm tình “thóc bồ thương kẻ ăn đong” và “nhường cơm sẻ áo” đối với người hoạn nạn khốn cùng. Cảnh đời nhiều khi có những bất trắc xảy ra, ngay cả vua, chúa hay người phú gia địch quốc thì cũng có thể gặp cơn hoạn nạn khốn cùng:
“-Ăn mày là ai? -Ăn mày là ta.
Ðói cơm rách áo hóa ra ăn mày.”
Dường như chỉ những công dân hiểu hết ý nghĩa huyền sử Việt, mới thể hiện vào cuộc sống được cách sống có trắc ẩn tình thương:
“Thương người tất tả, ngược xuôi,
Thương người lỡ bước, thương người bơ vơ;
Thương ngưòi ôm dắt trẻ thơ,
Thương người đau, yếu, già nua, bần hàn.
Thương người quan, quả, cô, đơn,
Thương người tuổi tác lầm than ngoài đường.
Thấy ai đói rách thì thương,
Rách thường cho mặc, đói thường cho ăn.
Thương người như thể thương thân.
Người ta gặp bước khó khăn tới nhà,
Ðồng tiền, bát gạo đem ra,
Rằng đây cần kiệm gọi là làm duyên.
May ta ở chốn bình yên,
Còn người tàn phá chẳng nên cầm lòng.
Tiếng rằng: ngày đói tháng đông,
Thương người bớt miệng bớt lòng mà cho.
Miếng khi đói, gói khi no,
Của tuy tơ tóc nghĩa so nghìn trùng.
Của là muôn sự của chung.
Sống không, thác lại tay không có gì!
(Ðoạn thơ trên trích trong “Gia huấn ca” của Nguyễn Trãi, do Tân Việt Sài Gòn xuất bản. Tuy nhiên nhiều giả thuyết văn học cho là không chính xác. Nay trích đăng vẫn tôn trọng quyền tồn nghi công luận).

Nữ Vương Phật Nguyệt

Truyện tích “Nữ Vương Phật Nguyệt” là huyền sử nữ chúa hồ Ðộng Ðình thuộc tỉnh Hồ Nam ở Trung Hoa, lại xảy ra vào thời Hai Bà Trưng là khi thời đại Hồng Bàng đã chấm dứt, nhưng cũng viết thành một chương trong sách này, vì các lẽ:
Thời đại Hai Bà Trưng là thời đại vận động phất cờ khởi nghĩa quy mô lớn, không cách thời Hồng Bàng quá lâu và Hai Bà dựng nền độc lập tự chủ của dân tộc Việt, có lãnh thổ quốc gia rộng tương đương với lãnh thổ thời nước Văn Lang lúc cường thịnh.
Thời đại Hai Bà Trưng là thời đại có tổ chức hệ thống chính trị và nề nếp đời sống nhân dân giống với thời đại Hồng Bàng nhất, so với các thời về sau.
Triết lý, tư tưởng nhân sinh cùng ý thức hệ vũ trụ của truyện tích “Nữ Vương Phật Nguyệt” có những nét đặc trưng và tự hào riêng có ở dân tộc Việt, khi chưa bị ảnh hưởng các tư tưởng Phật, Lão, Khổng.
Trước khi viết về “Nữ Vương Phật Nguyệt”, xin được viết sơ lược về cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng:
Hai Bà phất cờ khởi nghĩa điểm khởi đầu ở Cổ Lôi trang (nay là làng Hạ Lôi gần chân núi Ba Vì, có lúc giòng chảy của sông Nhị Hà vào mùa nước lũ chuyển giòng, đã chia làng, chia dân chạy nước lụt, thành hai làng Hạ Lôi ở cả về hai bên bờ sông, vì vậy nay ở hai tỉnh Vĩnh Yên và Sơn Tây tại mỗi tỉnh đều có làng Hạ Lôi), sau tập trung nhiều lực lượng tại làng Hát Môn cho tiện điều hành cả quân thủy lẫn quân bộ, rồi mới nhanh chóng tiến đánh Luy Lâu, thủ phủ cai trị của giặc Hán.
Do có sự liên kết, chuẩn bị bí mật nên địa bàn khởi nghĩa lan rộng ngay từ những ngày đầu. Tất cả có chín quận: Giao Chỉ, Cửu Chân, Nhật Nam, Uất Lâm (tức Quế Lâm), Thương Ngô, Nam Hải, Hợp Phố, Châu Nhai và Ðạm Nhĩ, tổng cộng có 65 huyện thành. Giao Chỉ là một trong số những quận lớn, lại cũng là quận đứng đầu cuộc khởi nghĩa có những huyện thành là: Mê Linh, Chu Diên, Long Biên, Liên Thụ, An Ðịnh, Cẩu Lâu, Khúc Dương, Bắc Ðới, Kê Từ, Tây Vu. Trong số 10 huyện này căn cứ khởi nghĩa quan trọng là hai huyện Mê Linh và Chu Diên, coi núi Ba Vì cùng với sông Hồng làm điểm tựa và là nơi xuất phát những mũi tấn công chính. Nhìn vào bản đồ miền Hoa Nam và đất nước Việt ngày nay, đích thực lãnh thổ cùng cư dân khởi nghĩa nổi lên trong hệ thống đất nước Hai Bà làm vua, có cương giới rộng gần ngang tầm với nước Văn Lang mà “Ðại Việt sử ký toàn thư” đã viết: “Khi Hùng Vương lên ngôi, dựng nước gọi là nước Văn Lang. Nước ấy phía đông giáp biển Nam; phía tây tới Ba Thục; phía bắc đến hồ Ðộng Ðình, phía nam tiếp với nước Hồ Tôn”.
Lực lượng khởi nghĩa theo Hai Bà khiến hàng loạt các tên thái thú quan lại cai trị 9 quận của Hán triều: kẻ bị giết, kẻ chạy trốn, kẻ đầu hàng, thậm chí có kẻ khiếp sợ phải cải trang làm đàn bà chạy trốn như tên thái thú Tô Ðịnh coi quận Giao Chỉ. Oanh liệt hơn nữa là không phải chỉ có hơn hai vạn quân Hán sang trấn áp cuộc khởi nghĩa do Hai Bà lãnh đạo như sử Hán viết, thực sự có thể có hàng chục vạn quân Hán bị thảm bại trước sức mạnh quật cường của quân dân người Việt. Chứng cớ đích xác và đúng sự thực thì tới năm 49 sau công nguyên, sau khi tìm cách rút quân khỏi Giao Chỉ, tên giặc Mã Viện cùng với đám tàn quân còn sót lại cũng bị quân dân khởi nghĩa theo Hai Bà tại miền đất Ngũ Khê (Vũ Lăng) vây hãm, bị chết trận, chết vì bệnh đậu mùa, kể cả tên tướng Mã Viện cũng không thoát khỏi tử thần.
Dù đã trải qua khoảng hai nghìn năm, nhiều lúc có sự cấm đoán cũng không ngăn được các cư dân người Hoa gốc Việt sống ở các nơi thời xưa là lãnh thổ Hai Bà cai quản, nay không còn thuộc đất nước Việt, vẫn tưởng nhớ công ơn Hai Bà và các tướng sĩ của Hai Bà. Tại các tỉnh: Tứ Xuyên, Quý Châu, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Ðông, Hồ Nam không nhiều thì ít, nơi nào cũng có đền miếu thờ “đạo Hai Bà”, hoặc thờ các tướng lĩnh của Hai Bà, con số có thể lên hàng nhiều trăm nơi thờ. Sự tôn thờ tưởng nhớ của dân chúng được nâng lên như một tín ngưỡng tôn giáo gọi là “đạo Vua Bà”. Nếu muốn tìm hiểu thêm tâm tư người dân và hỏi họ: -Tại sao lại thờ “đạo Vua Bà” và Vua Bà là ai? Sẽ được những người am hiểu cho biết: – Thờ “đạo Vua Bà” là đạo của Trưng Vương người quận Giao Chỉ dấy quân chống bọn tham quan áp bức dân.
Theo lời người dân sống phía nam sông Dương Tử kể lại, từ trước năm 1949 nhiều nơi trong dân gian có tổ chức các nghi lễ “lên đồng” cũng giống như ở nhiều nơi tại Việt Nam thường tổ chức nghi thức lễ “lên đồng”, nhất là đối với giới phụ nữ. Lễ tục này đã có từ rất lâu đời tại các vùng cư dân có các chủng tộc người Việt sinh sống. Qua các truyện tích như: thánh Gióng, Kim Qui, đều thấy thuật lại việc các vị vua lập đàn làm lễ cầu trời, rồi thấy ứng hiện lên một người có cử chỉ, lời nói giống như một vị thần nhân, nói ra những điều linh ứng, tương tự như sự linh ứng trong nghi lễ “lên đồng”. Nếu những người dân miền Hoa Nam đã tôn trọng lễ “lên đồng” là đạo, tức là một thứ tôn giáo, thì tôn giáo ấy chắc hẳn đã có từ lâu đời, từ thời thượng cổ.
Trong một cuộc nghiên cứu, sưu tầm, phái đoàn thuộc Viện Pháp Á (tức Institut Franco Asiatique, sách này đã dẫn chung tài liệu tại chương 5. Ðất nước Tổ Hùng) vào hai năm 1978, 1979, họ đã tham quan hàng trăm nơi tại các tỉnh lưu vực phía nam sông Dương Tử (Trường Giang) có thờ Hai Bà Trưng và các tướng lĩnh của Hai Bà. Ðích thân vị Giám đốc Sự vụ Trung Hoa của Viện Pháp Á đã đọc được tại Thư viện bảo tàng di tích cổ của tỉnh Hồ Nam một bản tài liệu cổ được viết vào thế kỷ thứ tám, nói về “Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt” như sau:
“Ngày xưa Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngự trên điện Linh Tiêu, có hai công chúa đứng hầu. Vì sơ ý hai công chúa đánh vỡ chén ngọc, Ngọc Hoàng Thượng Ðế nổi giận đày hai công chúa xuống hạ giới. Hai công chúa đi đầu thai được mấy ngày thì vị tiên lại giữ sổ trên thiên giới tâu rằng: có 162 vị tiên cũng đầu thai xuống hạ giới theo hai công chúa. Ngọc Hoàng Thượng Ðế thấy thế sợ hai công chúa làm loạn ở hạ giới, ngài mới truyền Thanh Y đồng tử đầu thai theo để dẹp loạn. Thanh Y đồng tử sợ địch không lại hai công chúa, có ý ngần ngừ không dám đi. Ngọc Hoàng Thượng Ðế truyền nhị thập bát tú đầu thai theo. Thanh Y đồng Tử sau là vua Quang Vũ nhà Hán. Nhị thập bát tú đầu thai thành hai mươi tám vị văn thần võ tướng đời Ðông Hán. Còn hai công chúa đầu thai xuống quận Giao Chỉ, vào nhà họ Trưng, chị là Trắc, em là Nhị. Lúc Trưng Trắc sinh ra có hương thơm đầy nhà, từ nhỏ đã thông minh quán chúng, sau lớn có sức mạnh bạt sơn cử đỉnh, được gả cho Ðặng Thi Sách. Thi Sách làm phản, bị thái thú Tô Ðịnh giết chết. Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa, được 162 anh hùng, liệt nữ các nơi nổi lên giúp sức, nên chỉ trong một tháng chiếm hết sáu quận của Trung Quốc ở phía nam sông Trường Giang là các quận: Cửu Chân, Nhật Nam, Giao Chỉ, Quế Lâm, Thương Ngô, Nam Hải (tiếp theo sau còn có thêm ba quận khởi nghĩa là Hợp Phố, Châu Nhai và Ðạm Nhĩ). Chư tướng tôn Trưng Trắc lên làm vua, thường gọi là Vua Bà.
Quang Vũ nhà Hán sai Phục Ba tướng quân Tân tức hầu Mã Viện và Long Nhương tướng quân Thân hầu Lưu Long đem quân dẹp giặc. Vua Bà sai nữ tướng Phật Nguyệt Tổng Trấn hồ Ðộng Ðình đánh chặn, Mã Viện và Lưu Long bị đánh bại. Vua Quang Vũ truyền lệnh cho nhị thập bát tú tới nghênh chiến, tất cả cũng bị đánh bại. Nữ Vương Phật Nguyệt phép thuật tài giỏi vô cùng, một tay nhổ núi Nga Mi, một tay nhổ núi Thái Sơn, đánh quân Hán chết xác lấp sông Trường Giang và hồ Ðộng Ðình, oán khí bốc lên tới trời. Ngọc Hoàng Thượng Ðế sai Thiên binh, Thiên tướng xuống trợ chiến cũng bị Nữ Vương Phật Nguyệt đánh bại. Ngọc Hoàng phải sai thần Du Liệt sang Tây Phương cầu cứu Phật Như Lai. Ðức Phật sai mười tám vị Kim Cương ba nghìn La Hán tới trợ chiến cũng bị bại trận. Cuối cùng Phật truyền Quán Thế Âm Bồ Tát tham chiến, Nữ Vương Phật Nguyệt với Quan Âm Bồ Tát đấu phép ba ngày, ba đêm, bất phân thắng bại. Sau Quán Thế Âm thuyết pháp mới khiến Nữ Vương Phật Nguyệt giác ngộ, bà bỏ đi tu.”

Cảnh tế thần linh tại một ngôi đền thuộc tỉnh
biên giới Lạng Sơn, nơi tiếp giáp lãnh thổ với nước Tàu
Ðối với bọn giặc Tần rồi giặc Hán, trước cũng như sau, việc chia cắt nước Việt thành quận, huyện, chẳng những tiện cho chúng về việc phân cấp hệ hành chính cai trị, còn chia cắt sức mạnh đoàn kết dân trong nước từ một khối thành những vùng nhỏ. Vì vậy đối với các quận để bảo tồn sức mạnh, người dân Việt coi nhau dù là ngưòi Nam Hải, Giao Chỉ hay Thương Ngô v..v. đã là người trong chín quận phải coi nhau là người chung một nước. Còn đối với các huyện người Việt thường bảo nhau tự lập người cầm đầu huyện là người Việt, vẫn gọi các chức huyện lệnh là các “lạc tướng” là chức hiệu có từ thời Hồng Bàng. Dân ngấm ngầm tìm cách không đóng thuế hay trốn vào rừng núi ở, nếu là các viên huyện lệnh do Tần hay Hán cắt cử. Vì vậy cai quản huyện Mê Linh là vị “lạc tướng” cha của Hai Bà Trưng và cai quản huyện Chu Diên là “lạc tướng” Ðặng Thi Sách. Trước khi khởi nghĩa cũng như khi cầm quân chống giặc Hán, thấy trong truyện tích các nơi ứng nghĩa, có nhiều nơi nói về công tác vận dụng của bà Trưng Nhị, tạo nên sức mạnh lòng dân Việt đoàn kết thương xót nhau thể hiện qua câu ca dao:
“Bầu ơi thương lấy bí cùng!
Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”.
Ðặc biệt nhất là đối với giới phụ nữ, khi được biết Hai Bà đang ngấm ngầm tuyên truyền, giao kết, huấn luyện, tổ chức việc khởi nghĩa, tưởng như mỗi người phụ nữ Việt đều muốn mau chóng hóa thân thành các nữ thiên thần, quyết chí diệt giặc giải phóng đất nước, giải phóng phụ nữ.
Cử mục sơn hà vô Hán tướng;
Thệ tâm thiên địa hữu Trưng Vương.
Ðó là đôi câu đối nói lên ý nghĩa các anh hùng liệt nữ cùng toàn dân Việt nhiệt tâm, tận lực hướng về cuộc khởi nghĩa: cho dù hệ thống cai trị của bọn tướng giặc dày đặc khắp nơi, ai ai mở mắt trông khắp núi sông cũng coi như không có bọn tướng giặc Hán; trong tâm can mọi người nguyện một lòng thề với trời đất chỉ biết có Trưng Vương.
Với ý chí yêu nước thương nòi đã được kết tụ, ngay từ đầu thế kỷ thứ nhất, của thiên niên kỷ thứ nhất theo công nguyên, những công dân Việt đáng tự hào, đáng vinh danh cả nữ lẫn nam chung sức một lòng quét sạch họa cường bạo xâm lăng mạo danh “con trời” chiếm cứ nước Việt. Họ thiết lập được một chế độ độc lập, có tính dân chủ, tự trị và phân quyền: lập pháp, hành pháp, tư pháp (dưới sự chỉ đạo: lập pháp do bà Trưng Trắc, hành pháp do bà Trưng Nhị, tư pháp do bà Xuân Nương) được gọi là chế độ “Hai Vua”, ấy là một chế độ văn minh thời cổ, cả hàng nghìn năm cảnh lê dân chìm đắm trong bóng tối chủ nghĩa phong kiến, chưa thể có được!
Toàn dân Việt sống dưới chế độ “Vua Bà” mà lại có những hai vua, không cần biết tới những tên “thiên tử” bịp bợm, chuyên chế độc tài, thường là hôn quân vô nhân tàn ác, dù là kẻ nào, dù cai trị một nước lớn nào chăng nữa! Dân Việt nhìn thấy bọn thái thú, thứ sử cùng bầy đàn quân lính giặc Hán trốn chạy trong khởi nghĩa như loài chuột nhắt và những tên còn lại bị thương tích, bị ốm đau, đã đầu hàng đang sống chui rúc như bầy chó đói. Chúng đang ngước trông sự rộng lượng bao la cùng những tấm lòng thương người của người dân Việt tha tội và cứu sống chúng. Chế độ của các tộc Việt có cơ sở dân chủ “thôn làng tự trị” do các trưởng làng, già làng cai quản, trên có các lạc tướng, hùng tướng chăm sóc, trên nữa có các lạc hầu, hùng hầu giúp Hai Vua trông coi các việc chính trị, quân bị, đúng như bốn câu thơ đời sau truyền tụng, ca ngợi về thời Hai Bà Trưng:
“Một xin rửa sạch nước thù;
Hai xin lập lại nước xưa họ Hùng;
Ba kẻo oan ức lòng chồng;
Bốn xin vẻn vẹn thửa công lênh này”.
Có cuộc khởi nghĩa sáng rực hào quang, các dân tộc Việt lại được âu ca đoàn kết, sống trong thanh bình với hệ thống tương giao kết nghĩa “ấn đồng thao xanh”, có từ thuở khởi nghiệp thời đại Hồng Bàng. Hậu thế đã hai nghìn năm dài với hàng chục lần các thời bị ngoại xâm đe dọa: Hán, Ngụy, Tấn, Tề, Lương, cho tới Ðường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Tuy thế vẫn vĩ đại oai hùng cùng công đức sự nghiệp Hai Bà, trong tâm hồn dân Việt, vẫn mỗi ngày hào quang một rạng rỡ hơn thêm.
Ngay trên cả những miền đất ở thời cổ xưa cũng như ở thời Hai Bà vốn là dân, là đất thuộc lãnh thổ nước Việt cổ, dù nay không còn thuộc nước Việt, tại các nơi ấy tồn tại nâng cao sự nghiệp Hai Bà như một tín ngưỡng tôn giáo bất diệt bằng ba tiếng tôn danh: “Ðạo Vua Bà”.
Phân tích lược qua giá trị triết học của sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt còn lưu giữ tại tỉnh Hồ Nam đã thấy ý chí, sức mạnh, lý tưởng của giống nòi Việt không dễ gì một chủ nghĩa hay lý tưởng ngoại dị có thể khuất phục. Vì ngoài sức mạnh trường tồn của dân tộc thì lý tưởng từ nghìn xưa của dân Việt đã đầy đủ chân lý, giá trị nhân sinh, chứa đựng lòng nhân nghĩa, bác ái. Vì người dân phải sống trong khoảng không gian chứa tư tưởng “thiên tử” bịp bợm, trăm nghìn khuôn phép vô nghĩa lý áp đặt, nên mở đầu truyện tích cũng đã viết: “Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngự trên điện Linh Tiêu, có hai công chúa đứng hầu…”. Rồi đến bố cục sự tích Nữ Vương cũng phải giống như các sự tích thần phả của các cây bút “nòi” chủ nghĩa phong kiến “con trời” hoang tưởng.
Nhưng đến cái lý cuối cùng, cứu cánh của sự tích, thuyết “thiên tử” hoàn toàn bị hất bỏ. Nữ Vương Phật Nguyệt chỉ là một vị tướng của “Vua Bà”, nhưng lại đánh bại bọn Mã Viện đệ nhất danh tướng lịch sử các vương triều phong kiến nhanh như phủi bụi. Rồi tất cả đám nhị thập bát tú là các tướng lưu danh thiên cổ của Hán cũng bị đại bại. Như thế toàn bộ tướng mạnh binh hùng của Hán Quang Vũ bị bại rồi còn gì nữa. Dường như pháp thuật của Nữ Vương Phật Nguyệt kể khắp từ trên trời cao cho xuống dưới toàn cõi thế ai cũng phải thua bà, vì một tay bà cầm núi Thái Sơn, một tay bà cầm núi Nga Mi nhổ lên như nhổ cỏ, tất nhiên khi bà ra tay thì xác giặc Hán chết phải lấp đầy cả hồ Ðộng Ðình và sông Trường Giang. Hàng vạn xác giặc Hán bị chết ấy oán khí bốc lên tận trời cao. Liệu trời cao có minh xét được rằng tội ác là do chính tên vua và triều đình Hán bắt lương dân vào lính đi cướp nước người? Nhưng không! Ngọc Hoàng Thượng Ðế lại sai Thiên binh, Thiên tướng từ trên trời xuống trợ chiến giúp bọn giặc xâm lăng. Nên Nữ Vương Phật Nguyệt cũng chẳng nề hà gì mà không đánh cho bọn Thiên binh, Thiên tướng sứt đầu mẻ tai tìm đường chạy trốn. Có lẽ vì ngồi ở trên cao quá, mà bầu trời mênh mông vô hạn, ông Ngọc Hoàng Thượng Ðế (do mấy ông nhà văn Tàu nặn ra) quên không nhìn thấy lương tâm cùng chân lý loài người đặt ở chỗ nào mà điều chỉnh, nên ông ấy không thấy cái sai của Hán Quang Vũ, ông ta lại sai thần Du Liệt sang Tây Phương cầu cứu Phật Như Lai. Thật khó hiểu và nên đoán là vì nể tình “trời, phật” giao hảo từ lâu, nên Phật đã truyền lệnh cho mười tám vị Kim Cương cùng ba nghìn La Hán xuống trợ chiến giúp bọn giặc Hán. Không có lẽ gì cả trời, cả đất, cả phương Ðông, cả phương Tây đều mù mịt u ám không loé ra được ánh sáng chân lý hay sao? Vì vậy nên Nữ Vương Phật Nguyệt cứ đánh tan tác mười tám vị Kim Cương cùng ba nghìn La Hán thua chạy, người thì bay lên trời, người chui xuống đất, lặn hướng Ðông, biến hướng Tây không còn ai, để cho cả trời và đất không thể mù mịt mãi, phải hiện ra ánh sáng chân lý bình minh hợp với ý nguyện toàn thể loài người. Nữ Vương Phật Nguyệt ngoài tước hiệu Nữ Vương bà còn có phật hiệu là Phật Nguyệt, có thể vì thế đức Phật Như Lai với phật nhãn của người, người tin rằng Nữ Vương Phật Nguyệt cũng là một vị phật siêu đẳng, nên người truyền đức Quan Thế Âm Bồ Tát tới gặp Nữ Vương Phật Nguyệt rồi tùy cơ Bồ Tát định liệu mọi sự. Khi Quan Thế Âm Bồ Tát đối diện cùng Nữ Vương Phật Nguyệt, hai ngài đều đem tất cả các pháp thuật cao cường, siêu đẳng ra quyết tâm hàng phục người dám đối địch với mình. Cuộc đấu phép vô tiền khoáng hậu này diễn ra suốt ba ngày ba đêm mà vẫn bất phân thắng bại. Cuối cùng Bồ Tát đành phải ngừng tay thu hồi các pháp thuật của người, rồi cùng Nữ Vương Phật Nguyệt hòa giải, bàn thảo tới các phương pháp cứu độ cho loài người sống trong thanh bình, an vui. Trong thâm tâm Nữ Vương Phật Nguyệt cũng tự biết dùng chiến tranh, dẫu cho là chiến thắng, cũng tạo sự sát hại nhiều sinh linh vô tội bị cưỡng bức vào chiến tranh, cũng không thể là phương thức cứu độ loài người, nên bà đã bỏ việc chiến tranh rồi đi tu.
Nữ Vương Phật Nguyệt đi tu, nhưng con đường chính đạo của bà không giống với phương pháp tu của Quan Thế Âm Bồ Tát. Nữ Vương tu theo “Ðạo Vua Bà”. Cũng từ đó cư dân các dân tộc gốc người Việt sống tại lưu vực hai bờ sông Dương Tử, nhiều nơi lập các đền, miếu thờ Hai Bà Trưng cùng các tướng lĩnh của Hai Bà. Nếu có những người lưu tâm nghiên cứu, tìm hiểu kỹ những tinh hoa, triết lý, tư tưởng của “Ðạo Vua Bà”, lại biết cải tiến, nâng cao các giá trị thánh thiện, loại dần những thấp kém, dị đoan, mê tín do bọn vua quan phong kiến kém tài tạo nên, tất nhiên “Ðạo Vua Bà” sẽ trở thành một tôn giáo tín ngưỡng ích lợi cho nhân quần xã hội.
Chân lý về vũ trụ và nhân sinh của dân tộc Việt, như đã viết ở chương “Bánh dầy bánh chưng” đã có giá trị là sự thực chân lý bao trùm mọi thứ đạo của cõi thế và gắn bó quan thiết với đất đai sông núi, với cuộc sống loài người cùng muôn loài, cùng vũ trụ bao la. Có thể lấy bài ca “Duy Tân” của phong trào “Ðông Kinh nghĩa thục” vào đầu thế kỷ hai mươi là quan niệm, trên một bình diện nào, điển hình cho “cách tu” của người Việt:
Phen này cắt tóc đi tu,
Tụng kinh niệm Phật ở chùa Duy Tân.
Ðêm ngày khấn vái chuyên cần
Cầu cho ích nước lợi dân mới là.
Tu cho mở trí dân nhà,
Nước ta độc lập dân ta phú cường.
Lòng thành thắp một nén hương
Nam mô Phật Tổ Hồng Bàng chứng minh.

Góc chùa Tây Phương tại Hà Tây, ngoài các mái cong
đặc biệt các khuôn tròn cửa sổ biểu tượng triết lý
âm dương đối xứng, không ở nơi nào có
Từ khi xảy ra cuộc chiến giữa quân Hai Bà đánh quân giặc Hán tại hồ Ðộng Ðình, rồi tới khi Nữ Vương Phật Nguyệt bỏ đi tu, thời gian về sau đã hình thành nên “Ðạo Vua Bà”. Bản “Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt” lược thuật trên đây được viết vào thế kỷ thứ tám. Từ thế kỷ thứ nhất tới thế kỷ thứ tám là thời gian dài thích hợp cùng khuynh hướng cả loài người phát triển nhiều tôn giáo còn trường tồn tới ngày nay. Cũng từ qui luật tổng thể chung, “Ðạo” của Nữ Vương Phật Nguyệt là truyền nối sự nghiệp, công đức Hai Bà Trưng, nhưng thời đại Hai Bà Trưng là kế nghiệp thời đại Hồ⮧ Bàng. Lịch sử Việt để lại nền móng xây dựng, mỗi viên gạch lại được trau chuốt, chọn lựa qua thời gian kết hợp thành tòa lâu đài kiến trúc lý tưởng.
Nghệ thuật kiến trúc “Sự tích Nữ Vương Phật Nguyệt” đạt mức hùng, bi, thiện mỹ ở chỗ: phá đổ và vùi lấp thuyết “thiên triều bịp bợm”, nhưng lại dùng ngay nó bị khuất lấp để xây dựng “Ðạo Vua Bà” lên trên. Loài người có thể ước mơ tới tương lai nào đó, cả loài người chung sống trong hạnh phúc và tiến bộ. Liệu điều mơ ước ấy có phải là tôn chỉ cùng là cứu cánh của “Ðạo Vua Bà” hay không?
Lý tưởng khởi nghĩa của Hai Bà không thích hợp với quan niệm độc tôn:
Các sách “Xuân Thu” của Khổng Tử và “Tả thị Xuân Thu” của Tả Khâu Minh đều có những chỗ viết chung một ý:
“Trời sinh ra dân, đặt ra vua, ra thầy, đều để giúp Thượng Ðế”. Hoặc: “Trời làm chủ thiên hạ, vua nối trời mà cai trị dân. Kẻ chịu mệnh trời mà cai trị dân là thiên tử”.
Kinh Lễ trong thiên “Vương chế” đưa ra nguyên tắc bất bình đẳng giữa các nước khác so với Trung Hoa là:
“Ðông phương viết Di. Tây phương viết Nhung. Nam phương viết Man. Bắc phương viết Ðịch.” (Dân ở phương Ðông gọi là giống Di. Dân ở phương Tây gọi là giống Nhung. Dân ở phương Nam gọi là giống Man. Dân ở phương Bắc gọi là giống Ðịch). Với quan niệm các câu nói này, người Trung Quốc xưa đều coi những người sống ở bốn phương không phải là dân Trung Quốc đều là các giống: mán, mọi, rợ, hồ, chưa đầy đủ các tiêu chí để được gọi là người! Còn xét theo chiết tự chữ nho, cả bốn chữ: Di, Nhung, Man, Ðịch đều thuộc trong các bộ chữ ám chỉ các giống: sâu, bọ, điểu, thú, mà thôi!
Sách Luận Ngữ ở thiên Quí thị có chỗ viết:
“Khổng Tử viết: Thiên hạ hữu đạo tắc lễ, nhạc, chinh, phạt, tự thiên tử xuất. Thiên hạ vô đạo, tắc lễ, nhạc, chinh, phạt, tự chư hầu xuất. Tự chư hầu xuất, cái thập thế hy bất thất hỹ! Tự đại phu xuất, ngũ thế hy bất thất hỹ! Bồi thần chấp quốc mệnh, tam thế hy bất thất hỹ! Thiên hạ hữu đạo tắc chính bất tại đại phu. Thiên hạ hữu đạo tắc thứ nhân bất nghị”. Tạm dịch: “Khổng Tử nói: Thiên hạ có đạo thì lễ, nhạc, chinh, phạt đều do thiên tử mà ra. Thiên hạ không có đạo thì lễ, nhạc, chinh, phạt do các nước chư hầu mà ra. Từ các nước chư hầu mà ra, hẳn trong vòng mười đời nước bị mất. Từ quan đại phu mà ra, trong vòng năm đời nước bị mất. Các quan coi phụ việc nước mà lộng quyền, trong vòng ba đời nước bị mất. Thiên hạ có đạo việc chính trị không do quan đại phu. Thiên hạ có đạo người dân thường không được nghị bàn”.
Thực tình chưa chắc những lời nói trên đã là của Khổng Tử, hay chỉ là lời của bọn hủ nho, quan lại nô bộc nền quân chủ chuyên chế phản quyền dân, quyền người đã tự nặn ra thứ tư tưởng trên, rồi gán cho là do Khổng Tử nói. Tuy nhiên cũng nên xét về giá trị những câu nói đó, vì nó đã đè nặng nhiều đau thương lên kiếp người Ðông Á. Thân phận con người sinh ra giữa cõi trời đất, nếu cứ như số đông các thánh nhân, triết gia, văn nhân ở Trung Hoa, châu đầu phục vụ cho ông thiên tử, khom lưng quì gối trước cái ngai vàng, thì trong bầu trời bao la minh bạch của cụ Lang Liêu người Việt đã xác định, xét ra những cái lý về thiên tử đã chẳng minh bạch chút nào. Bầu trời lại bị vẩn đục, vì ở đó lại cũng có một vị Ngọc Hoàng Thượng Ðế ngồi trên ngai vàng, có trăm quan văn võ, đầy đủ nghi vệ triều đình, giống như hệt những gì mà ông vua Tàu được thụ hưởng. Sự tưởng tượng ấy cũng chung qui chỉ để định đặt ra “luật trời”, một thứ mô hình phiên bản, dành nhiều đặc quyền cho thiên tử ở dưới trần gian. Còn thân phận của muôn triệu dân đành cam chịu cảnh lầm than hèn mọn, do chế độ tạo ra biết bao tệ nạn tham quan, hà khắc, bất công, phi lý. Hỏi như thế còn đâu là quyền công dân? Còn đâu là quyền con người?
“Ðạo Vua Bà” được mọi người dân tín ngưỡng là do lòng dân ước mơ được sống trong xã hội loài người không còn cảnh bịp bợm phi nhân, phi nghĩa.
Ðiều bi thiết vô cùng thương tâm là chính đám người lương dân sống đáy cùng xã hội bị đày đọa bóc lột, lại là những người phải chịu tai họa nhiều nhất, khi chế độ phi nhân lung lay. Họ bị cưỡng bách ra ngoài mặt trận lao vào đất chết để phải đàn áp các phong trào khởi nghĩa, hay phải đi xâm chiếm các nước lân bang chỉ để củng cố vững vàng và thỏa mãn tham vọng của tên thiên tử cùng chế độ phi nhân nghĩa. Do đó dù Nữ Vương Phật Nguyệt thắng bọn Mã Viện, Lưu Long, lại rất đau lòng nhìn thấy xác chết quân giặc lấp đầy cả hồ Ðộng Ðình và sông Trường Giang, nên Nữ Vương Phật Nguyệt gác ra ngoài chuyện chiến tranh, chiến thắng. Người đi tu để tìm chân lý mới cho cuộc sống con người. Lịch sử để lại những hình thành của lịch sử, các thế hệ sau nên xây dựng, tô thắm lịch sử, phục hưng những gì đích thực lịch sử, không nên xuyên tạc, bôi nhọ, làm rối loạn, phức tạp sự thừa kế lịch sử nhằm thỏa mãn những tham vọng phi nhân, phi nghĩa. Vấn đề hệ trọng đặt ra đối với tuyệt đại đa số những người Hoa Nam vốn gốc là dân Việt và những người Việt sống trên đất Việt ngày nay, đều cần nhớ là dù là Việt hay Hoa cũng đều chung ruột thịt huyết thống, phải thương yêu nhau bằng tình ruột thịt huyết thống. Khái niệm quốc gia đa số thường gồm nhiều chủng tộc. Khi hai quốc gia chung biên giới lại có nhiều cư dân chung một chủng tộc sinh sống ở cả hai phía nơi phân cách biên cảnh, ý nghĩa cao đẹp nhất là nhân dân hai quốc gia Việt, Hoa phải loại bỏ mọi sự tranh chấp bất hòa, dù chỉ là sự mưu chiếm lấn một vài trăm cây số vuông đất biên cương hoặc tham lam nhận chủ quyền vô lý ở một vùng biển, vài hòn đảo hay gây xáo trộn bất ổn biên giới. Tốt nhất, giới cầm quyền hai nước nên chú tâm vào việc nâng cao dân sinh, dân trí và tình thương yêu lân bang để nơi ranh giới quốc gia cũng là nơi kết nối tình huyết thống ruột thịt.
Nhận định cuộc khởi nghĩa Hai Bà Trưng cùng truyền thuyết Nữ Vương Phật Nguyệt tức vị nữ Chúa hồ Ðộng Ðình cộng với tín ngưỡng Ðạo Vua Bà trải qua lịch sử kéo dài cho tới ngày nay, khiến mỗi công dân người Việt không thể không liên tưởng nghĩ: – Ðã có biết bao nhiêu cuộc vận động, bao nhiêu cuộc khởi nghĩa và kháng chiến hào hùng đồng loạt diễn ra dưới thời đại Hai Bà Trưng và truyền lại ý chí bất khuất mãi mãi cho hậu thế ra sao? Những cuộc khởi nghĩa tranh hùng ấy đã bị lịch sử ngoại xâm xuyên tạc, đã bị bụi thời gian che khuất mất bao hào quang?

(Chương 13. Nữ Vương Phật Nguyệt cũng như ở chương 5. Ðất Nước Tổ Hùng, tác giả khi viết có trích dẫn, tham khảo bài diễn văn của Giám đốc Trung Quốc Sự Vụ thuộc Viện Pháp Á (Institut Franco Asiatique) đọc vào dịp khai giảng niên khóa học 1991 – 1992 của Viện Pháp Á, nguyên văn tiếng Pháp, do Tăng Hồng Minh dịch sang Việt ngữ).

Vương Đàm

Vương Trùng Dương

VuongTrungDuong

Đêm,
Nhớ Trăng Sài Gòn

Sau ba năm lưu lạc nơi xứ người, bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn của nhà thơ Du Tử Lê sáng tác năm 1978, mang nỗi buồn xót xa của kẻ mất quê hương, nhớ lại hình ảnh xa xưa với bao kỷ niệm đã in sâu trông tâm khảm. Sau giờ tan sở ca hai ở hãng Rockwell International tại Costa Mesa, lái chiếc xe cà rịch cà tàng trên đường về nhà giữa đêm trăng thanh gió mát cùng nỗi buồn thê lương nơi đất lạ quê người, thay vì buông tiếng thở dài, nhâm nhi dòng suy tưởng trong ý thơ hiện về “theo bánh xe lăn”. Và, Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn.

“đêm về theo vết xe, lăn
tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên, vàng
tìm tôi đèn thắp hai hàng
lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây
ngỡ hồn tu xứ mưa bay
tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
đêm về theo bánh xe, qua
nhớ tôi Xa Lộ; nhớ nhà Hàng Xanh
nhớ em kim chỉ khíu tình
trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
nắng Trương Minh Giảng. lá hè Tự Do
nhớ nghĩa trang: quê bạn bè
nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
đêm về theo vết xe, lăn
tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?”.

Năm 1979, nhạc sĩ Phạm Đình Chương vượt biển, năm 1981 định cư tại Hoa Kỳ. Tình cờ bắt gặp bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn trên trang báo, ông biến ngôn ngữ trong thi ca vào cung bậc và ca khúc mang tựa đề bài thơ trở thành ca khúc tuyệt vời. Khởi đầu với tiếng hát Lệ Thu, trong thời điểm đó, mịt mù xa cách, ngậm ngùi với thân phận, cho hồn quyện vào giai điệu và lời ca. Và, theo dòng thời gian, nơi nắng ấm Cali, tiếng hát Thái Thanh, Quỳnh Giao, Tuấn Ngọc, Ý Lan, Vũ Khanh, Trần Thái Hòa, Lê Hồng Quang… đưa ca khúc vào tâm hồn người thưởng ngoạn trên mọi miền đất nước.

Phạm Đình Chương là một trong những nhạc sĩ tài hoa phổ thơ, để lại cho đời nhiều tình khúc quen thuộc, bất tử.

Tuyển tập Mộng Dưới Hoa gồm 20 Bài Thơ Phổ Nhạc của Phạm Đình Chương do trưởng nam của ông, ca sĩ Phạm Thành ấn hành tại Hoa Kỳ năm 1985.

Khởi đầu với ca khúc Mộng Dưới Hoa – thơ Đinh Hùng, từ năm 1957. Và, từ đó với Màu Kỷ Niệm – thơ Nguyên Sa, Nửa Hồn Thương Đau, Dạ Tâm Khúc, Bài Ngợi Ca Tình yêu – thơ Thanh Tâm Tuyền, Người Đi Qua Đời Tôi – thơ Trần Dạ Từ, Đôi Mắt Người Sơn Tây – thơ Quang Dũng, Mưa Sài Gòn Mưa Hà Nội – lời Hoàng Anh Tuấn… Với dòng thơ của Thanh Tâm Tuyền, ca khúc Đêm Màu Hồng còn mang tên phòng trà nổi tiếng tại Sài Gòn vào năm 1967, hằng đêm, được mở đầu và kết thúc chương trình. Bóng dáng ca sĩ Hoài Bắc (Phạm Đình Chương) vừa nghệ sĩ, vừa phong trần, trong ánh đèn màu, trong men nồng, cất tiếng hát trầm ấm… thu hút người thưởng ngoạn lạc vào nơi chốn xa xăm.

Cuộc tao ngộ giữa thơ và nhạc với Du Tử Lê và Phạm Đình Chương như định mệnh. Ca khúc đầu tay khi định cư tại Cali với Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn và ca khúc cuối cùng với Quê Hương Là Người Đó cho đến ngày từ trần vào tháng Tám năm 1991. Bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn được ấn hành trong Thơ Tình Du Tử Lê là tập thơ đầu tay ở hải ngoại trong năm 1984, và cũng là thi phẩm thứ sáu. Kể từ năm 1957 đến nay, tròn nửa thế kỷ, Du Tử Lê cho ra đời khoảng mười lăm tập thơ. Nhiều bài thơ đã được các nhạc sĩ Anh Bằng, Phạm Duy, Từ Công Phụng, Trần Duy Đức, Phan Ni Tấn, Đăng Khánh, Ngọc Trọng, Hoàng Thanh Tâm, Lê Văn Thành, Phan Nguyên Anh, Hoàng Đình Bình, Nguyên Ngọc… phổ nhạc. Và, nhiều bài viết nói về tác giả, tác phẩm của Du Tử Lê ở hải ngoại vì vậy chỉ đề cập về bài thơ qua dòng nhạc của Phạm Đình Chương.

Năm 1971, Phạm Đình Chương phổ thơ Du Tử Lê với ca khúc Khi Cuộc Tình Đã Chết và đúng 10 năm sau, nhạc sĩ bắt gặp dòng thơ mang cùng tâm trạng với nhau để dệt thành ca khúc. Du Tử Lê cho biết, là nhạc sĩ tài hoa với tài nghệ phổ thơ nhưng bài thơ Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn nằm trên chiếc dương cầm những sáu tháng. Bài thơ theo thể lục bát nên muốn phá thể cái âm điệu đó để chuyển sang giai điệu khác nên “dây dưa” như vậy. Nhà văn Mai Thảo thấy vậy, nói, vất mẹ nó đi, Phạm Đình Chương đáp, biết mẹ gì về âm nhạc mà nói.

Và, sau đó, đứa con được chào đời. Tác giả giữ được hồn và câu thơ cho ca khúc. Chỉ có vài lời được biến đổi để phù hợp với cung bậc. Câu thơ “đêm về theo vết xe, lăn – tôi trăng viễn xứ, sầu em bến nào?” chuyển thành “Đời tan, tan nát chiêm bao…”.Câu thơ “nhớ nghĩa trang: quê bạn bè – nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường” được chuyển thành “Nhớ nghĩa trang xưa, quê hương bạn bè…”. Với bài thơ lục bát nầy, có nhạc trong thơ, nhưng nhạc sĩ biến âm điệu thăng hoa, bay bổng theo từng cung bậc để thơ và nhạc “xe tơ kết tóc”.

Nỗi nhớ trong thơ và nhạc của Du Tử Lê và Phạm Đình Chương, có lẽ, trong giây phút nào đó nơi chốn nầy, cũng là tâm trạng của nhiều người. Nắng ấm Cali, đất lành chim đậu… nghe thật dễ thương, quyến rũ như thôi thúc con người ly hương. Hơn một nghìn năm về trước, hình ảnh mà nhà thơ Hạ Tri Chương bày tỏ khi “nắng hạ gặp mưa rào, đất khách gặp người quen” luôn luôn ám ảnh trong lòng mọi người. Với đấng mày râu, hai câu thơ của ông “Mạc mạn sầu cô tửu, nang trung tự hữu tiền” trong bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Hồi Hương Ngẫu Hứng quá chí lý, tội gì ngồi nhâm nhi đơn chiếc, có chút đỉnh tìm bạn cùng vui, không còn gì bằng vùng đất nầy. Thế rồi, ngày qua ngày, đất lành biến thành dữ, mất tên Sài Gòn rộng lớn ở quê hương, tạo dựng tiểu Sài Gòn nơi đất khách. Và, không biết ai đặt cho hỗn danh “chốn gió tanh mưa máu” nghe mà ớn lạnh.

Ai đã quen với một thời bom đạn, ai đã từng cam chịu cảnh nghiệt ngã tang thương, quằn quại dưới ách thống trị của chế độ độc tài, đảng trị thì dưới bầu trời tự do, sá gì với cái hỗn danh đó mà ngao ngán? Nếu cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày trước có mỉa mai cũng đành cam chịu vì đã “đi một đàng, học một sàng khôn” rồi thì làm người khôn luôn để “ở chốn xao xao” cho khỏi cảm thấy cô đơn trống vắng khi “lạc nhau cuối phố sương quàng cổ cây”, không làm thơ mà làm thinh thì buồn đứt ruột.

Sinh hoạt ở Sài Gòn ồn ào, xô bồ cả ngày lẫn đêm. Ở tiểu Sài Gòn nầy lại khác. Khi màn đêm buông xuống mang theo sinh khí sôi động, náo nhiệt chìm dần vào bóng đêm. Đêm rằm tháng Bảy, cùng Du Tử Lê, Hoàng Sỹ, ngồi nhâm nhi ly cà phê ở Café de Paris trên đại lộ Bolsa, tiểu Sài Gòn. Nhìn vầng trăng tròn, nghe ca khúc Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn, bỗng nhớ lại ngày tiễn biệt nhạc sĩ Phạm Đình Chương về cõi xa xăm cách đây 16 năm.

Ban ngày oi bức, buổi tối trăng thanh gió mát, ngồi dưới mái hiên phì phà điếu thuốc, trò chuyện cùng bằng hữu, nghe nhạc, ngắm trăng, tìm lại hình ảnh xa xưa… Du Tử Lê trầm ngâm như ôn lại hình ảnh ba thập niên về trước. Anh tâm sự, lúc đó, không bao giờ nghĩ sẽ có ngày trong khung cảnh như vậy cùng bằng hữu. Bao nhiêu thay đổi, kẻ mất người còn, còn mang hơi thở, còn sống với kỷ niệm. Và, Sài Gòn hình ảnh của Sài Gòn năm xưa vẫn là Sài Gòn muôn thuở.

Thi phẩm cuối cùng ở trong nước Đời Mãi Ở Phương Đông, hình ảnh Sài Gòn và xa lộ:

“Sầu người kéo bước tôi lui
Ngày trên núi gởi về xuôi mắt rừng”
(Khi Ở Pleiku Nhớ Sài Gòn)

“Ở đây , người có thiên đường
Có ngôi mộ nhỏ, có hồn vấn vương
Có đau đớn khắc trên tường
Có tôi đã gởi thịt xương sang người”
(Khi ở Xa Lộ)

Chỉ vài ngày xa cách Sài Gòn, Du Tử Lê đã gởi niềm thương nhớ và ở xa lộ “có hồn vấn vương” vì vậy khi lưu lạc nên nầy bờ đại dương, mịt mù xa cách, làm sao quên được?

Sau ngày nhạc sĩ Phạm Đình Chương vĩnh viễn ra đi, tập thi phẩm “Đi Với Về, Cũng Một Nghĩa Như Nhau” của Du Tử Lê, bài “Thơ ở phạm đình chương”, như lời tâm sự:

“có dễ chưa một thời đại nào
lại mang nhiều hạt mầm
hoan lạc
và khổ đau

như thời đại chúng ta…
… sách vở chẳng bao giờ tìm được
tung tích đại bàng
cất cánh về hư vô
chói lọi…
… đã thuộc về ngoại sử
sự mất tích của Hoài Bắc.
như dấu chấm hết
nơi cuối những nhạc phẩm Phạm Đình Chương
một ngày trong tháng tám”.

Với, Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn. Với, mối lương duyên giữa thơ và nhạc, người về cõi mây trời, người còn lại nơi dương thế, và, một ngày nào đó chỉ còn lại hồn thơ nét nhạc lưu lại trần gian. Tròn nửa thế kỷ, từ những bài thơ đầu đời như Thú Tội năm 1957 đến nay Du Tử Lê đã sáng tác trên một nghìn bài thơ, và Đêm, Nhớ Trăng Sài Gòn được in lại trong tuyển tập Thơ Du Tử Lê toàn tập 2 (1975-1993), tác phẩm 46, đánh dấu 50 năm sáng tác thi ca của anh.

Mười hai thế kỷ về trước, bài thơ ngũ ngôn tứ tuyệt Tĩnh Dạ Tư của Lý Bạch đã để lại hậu thế hai câu thơ trác tuyệt:

“Cử đầu vọng minh nguyệt,
Đê đầu tư cố hương”

Trăng và cố hương trong thơ Du Tử Lê và dòng nhạc của Phạm Đình Chương cùng nỗi niềm và tâm trạng của người xưa có lẽ gắn liền với “giai đoạn lịch sử” của đất nước.

Phan Xuân Sinh,
Đứng Dưới Trời Đổ Nát

“Le moi est haisable”. Hơn ba trăm năm về trước, Blaise Pascal (1623 – 1662) để lại cho đời câu nói “cái ta – thì, là, thật – đáng ghét”. Albert Camus (1913 – 1960) đã lặp lại lời đó và được đề cập rất nhiều trong thời hiện đại. Paul Valéry (1871 – 1945) cho rằng cái ta đáng ghét nhưng đó là cái ta của người khác. Ba khuôn mặt lẫy lừng trong văn học Pháp cùng nhận định khe khắt về cái ta, không biết trước Pascal, có danh nhân nào đã nói câu đó nhưng sau Camus thì bắt gặp rất nhiều, đôi khi bị lạm dụng thái quá, có phần phiến diện?.

Nhìn lại thi ca Việt Nam, cái ta trong ngôn ngữ thi ca thể hiện qua ca dao rất nhiều, điển hình về cái ta với hình ảnh “ta tắm ao ta”, cái ta đó, chan chứa tình người, gói trọn tâm tư tình cảm cho nhau với quê hương, đất nước. Lãng mạn, trữ tình trong tình yêu như: “Mình ơi, có nhớ ta chăng? Ta như sao Vượt, chờ trăng giữa trời” để tỏ bày tâm sự, nỗi niềm nhớ thương như thông điệp tình yêu được dàn trải tự nghìn xưa cho đến mai sau.
Vào thế kỷ XV, Bạch Vân Cư Sĩ Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 – 1585) với vần thơ trác tuyệt về cái ta trong bài thơ Thú Thôn Ở, cái ta trong Tự Thuật của tiên sinh vào tuổi bát thập được truyền tụng qua bao niên kỷ. Trên thi đàn Việt Nam, rạng rỡ với cái ta trong thơ Tản Đà, Vũ Hoàng Chương, Đinh Hùng, Nguyễn Bính, Quang Dũng, Thâm Tâm… của thời tiền chiến, Tô Thùy Yên, Nguyễn Bắc Sơn… tuyệt vời, thân thương và làm sao nhẫn tâm ghét bỏ.
Mùa Hè năm 2000, thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát của Phan Xuân Sinh, tạp chí Văn xuất bản, được góp mặt trong dòng văn học lưu vong. Với Phan Xuân Sinh, vào đầu thập niên 60, tôi đã cảm mến đôi bài thơ của anh trong tuổi học trò. Trải dài những bốn thập niên, đợi vào thời điểm thiên niên kỷ mới, chào đời tập thơ.
Đứng Dưới Trời Đổ Nát gồm năm mươi bài thơ được tuyển chọn, trong đó có bốn mươi sáu bài với bóng dáng cái ta. Cái ta trong thơ Phan Xuân Sinh được trang trải trong tình yêu, bằng hữu, cái ta với rượu, cái ta của người lính trận trong cơn binh lửa, cái ta trong thân phận kẻ chiến bại lưu lạc phương xa… nó tàng ẩn, bàng bạc, thoáng hiện trong cuộc sống giữa thế nhân, mang nặng tình người, gắn bó với hệ lụy cuộc đời và bi kịch thời đại.

Ta, Tuổi Trẻ, Tình Yêu

Sinh trưởng và lớn lên ở Đà Nẵng, mang tâm hồn lãng mạn ngay từ thuở học trò, Phan Xuân Sinh đã si tình bóng hình thục nữ đất thần kinh:

“ta chết điếng một thời, em Thượng Tứ
bởi nụ cười, môi mỏng gái thâm cung”
(chút tình cho Huế)

“em đỏng đảnh treo mảnh tình trên giá
ta ngước nhìn thèm ứa máu chạy quanh”
(vài đoạn tứ tuyệt… mùi hương)

Ngày xưa, Nguyễn Nhược Pháp qua bài thơ Chùa Hương ghi lại thiên ký sự cô gái đi chùa, gặp một văn nhân, tâm hồn say đắm “Em cầu xin Trời Phật. Sao cho em lấy chàng”. Ngày nay, tuy ngoại đạo nhưng mãnh lực tình yêu đã đưa đẩy chàng trai:

“ta tắm gội ăn chay nằm đất
cũng chắp tay khấn vái tứ phương…
… ta cũng có đôi ba ngày tịnh khẩu
bởi vì em tụng mãi những tràng kinh”
(theo em lên chùa)

Và, thổ lộ tâm trạng của kẻ si tình, có lẽ đó cũng là tâm trạng của hầu hết chàng trai khi vương vấn trong cuộc tình bàng bạc qua dòng thơ:

“ta bâng khuâng đứng bên đường
xa em còn chút vấn vương bên lòng”
(mờ phai)

“hai tay đưa chén ngang mày
mời em cạn chút rượu nầy cùng ta
ngồi đây, ta trải chiếu hoa
đặt đôi gối gấm để mà tựa lưng”
(mời em uống rượu)

Theo dòng thời gian, Phan Xuân Sinh vấp phải nỗi đau thương, khổ lụy để rồi bày tỏ qua dòng thơ đầy ngậm ngùi, xúc động:

“mới hay đâu dễ gì quên được
em một thời dậy sóng đời ta
là để lại lưỡi dao oan nghiệt
cứa nát ta bằng êm ái mượt mà”
(cho người tình phụ)

“gặp nhau chi giữa con đường
nên lời ta đượm hàng hàng cách ngăn
em về chia nửa vầng trăng
khóc giùm ta giữa gối chăn bạc tình”
(gặp người xưa giữa phố Boston)

Bao nhiêu năm lang bạt kỳ hồ, bao năm đeo đuổi theo bóng hình với thú đau thương. Trở về với thực tại, trở về tình yêu đích thực, kẽ tình si đành tạ lỗi vời người bạn đời:

“một đời em tối ngày tất bật
nên yêu em ta gác chuyện ăn chơi
ngựa hoang đàng là ngựa quen đường cũ
ta hoang đàng ta chỉ biết hầm hơi…
… ta chết lặng, trách mình lầm lỡ
tạ lỗi cùng em. Em thiệt dễ thương”
(ta lỗi với vợ hiền)

“em vì ta lao mình cứu rỗi
trải lòng ra, phơi giữa đất trời…
… ta gượng dậy qua cơn bạo bịnh
đời có em. Ta thật bình yên”
(sớm chiều lặn lội)

Ta, Bằng Hữu, Lưu Linh

Lớn lên trong thời chiến, Phan Xuân Sinh cũng phải “Xếp bút nghiên theo nghiệp kiếm cung” như hầu hết bằng hữu của anh trong thời chiến. Và, một thời, chàng trai lãng mạn trong tình yêu và thơ văn, nổi tiếng Sĩ quan trẻ gan lì của Đại đội Trinh sát thuộc Trung đoàn 51 Biệt Lập ở Quảng Nam.

“ta bao năm lửa hờn tàn rụi
chuyện đao binh như giấc chiêm bao
gặp lại bạn, lòng ta quay quắt
chuyện xa xưa như mới thuở nào”
(gặp lại bạn ta)

Đơn vị anh nhiều lần xung trận, và anh đã nhiếu lần ngã xuống trên quê hương với nhiều chiến tích. Trong hoàn cảnh đó, niềm vui còn lại trong anh với rượu và bằng hữu.

“quanh ta, bạn bè đâu chết tiệt
chỉ thấy toàn một lũ hám danh…
… bạn hiền ta, cùng nhau nâng chén
giũ sạch bên ngoài chút hư danh”
(nói chuyện với những bạn hiền)

“ta uống cùng ta thêm cốc nữa
lừ đừ ta cất giọng say say…
… ta muốn quên đi đời hệ lụy
nhủ với lòng ta cố gắng cười”
(lu rượu đầu xuân)

“chếnh choáng vài ly quên ráo trọi
ngủ vùi khi thiên hạ ngả nghiêng”
(trong cơn say)

“đêm nay, ta muốn say cùng bạn
chuyện bên ngoài, vất lại đằng sau”
(chén rượu, tạ lòng bạn hiền)

Năm 1990, Phan Xuân Sinh được định cư tại Hoa Kỳ, vẫn như thuở nào, trọn đời anh sống với bạn bè dù cuộc sống xứ người bị xô đẩy bởi nhu cầu cuộc sống.

“gặp lại bạn, lòng ta quay quắt
chuyện xa xưa như mới thuở nào”
(gặp lại bạn ta)

“chén ruoụ đựng chút tình thân cũ
ta thấy đời đang dậy mùi hương
nhìn nhau hai đứa đâu còn trẻ
mái đầu điểm bạc chút phong sương”
(uống rượu với bạn cũ bên bờ vịnh Half Moon bay)

Đời nhà Tấn ở Trung Hoa, Lưu Linh tự Nguyễn Lãng ở Trúc Lâm suốt đời sống phóng đãng với rượu và bằøng hữu,, tiên sinh nổi danh với bài Tửu Đức Tụng, được lưu truyền qua bao thế kỷ. Người đời mến chuộng tiên sinh nên khi thả hồn trong rượu, muốn làm đệ tử người xưa. Thuở còn đi học, Phan Xuân Sinh rất mê bài Hồ Trường của Nguyễn Bá Trác vào thời tiền chiến. Và, hình như nó đã lôi cuốn cả tâm hồn yêu thơ, con người PSX nhập cuộc qua mấy thập niên.

Ta, Chiến Chinh, Đời Lính

Đã từ lâu, trong lần gặp anh, Phan Xuân Sinh tâm sự: Trong chiến cuộc khủng khiếp đó luôn luôn đe dọa và ám ảnh cuộc sống, đôi khi men rượu như ngọn lửa hâm nóng bầu nhiệt huyết, đôi lúc hòa nhập cùng đồng đội trong thời điểm tử sinh, phó mặc tuổi trẻ với chiến chinh. Vì vậy, dòng thơ của anh thể hiện cuộc sống bạt mạng của người lính trận:

“dừng quân ta cũng thường ngồi nhậu
rượu đế vài ly cũng sụt sùi…
… thì thôi, ta uống cho say đã
một chút danh rồi cũng tiêu ma”
(nhớ ngày ra quân)

“ta vẫn nằm. Trên đồi gió thổi
chim hót ban ngày, pháo dội ban đêm
em cứ chạy theo từng mốt mới
còn ta, uống rượu để tìm quên”
(nghe chim hót trên đồi 55)

“cái thuở ta làm tên lính trận
ôm ba lô ngồi mơ mộng một mình…
…ta mang vết thương làm người si dại
những tình thư ta viết thật điên cuồng”
(dấu xưa)

“thôi hãy uống. Mọi chuyện bỏ lại sau
nếu có thể ta gầy thêm cuộc nhậu
bầy làm chi trò chơi xương máu
để đôi bên nuôi mầm mống hận thù”
(uống rượu với người lính bắc phương)

Ta Với Tiền Nhân

Nghĩ lại thân phận tuổi trẻ trong hoàn cảnh đất nước đắm chìm trong hận thù và lửa đạn. Anh lại nghĩ về hình ảnh người xưa. Lâm Chương cho rằng, nói với người xưa là cái cớ để anh tỏ rõ cái uất của mình.

“đêm nay nằm, ta lại nhớ tới ngài
gối lên nỗi đau của người thất thế”
(đêm nằm nhớ Ức Trai)

Ức Trai là bút hiệu của Nguyễn Trãi vào thế kỷ XV, thời Hậu Lê, tiên sinh là bậc khai quốc công thần đã cùng với anh hùng đất Lam Sơn Lê Lợi, suốt mười năm nằm gai nếm mật để kháng quân Minh, khôi phục lại sơn hà xã tắc. Trong đỉnh vinh quang của danh vọng, tai ương tại vườn Lệ Chi đem lại thảm thương cho tiên sinh và dòng họ bị tru di tam tộc!.

“ta bạc đầu sao chẳng ra chi
ngài bạc đầu làm nên việc lớn…
… người với ta cùng quê người đất lạ
ta hư cả đời ngài đã thành danh”
(hầu chuyện cùng Ngũ Tử Tư)

Vào thời Chiến Quốc, Sở Bình Vương giết thân phụ và anh của Ngũ Tử Tư nên Ngũ Tử Tư tìm cách trốn ra khòi nước Sở để mong ngày phục hận. Trên đường đến cửa ải Chiêu Quan, quân Sở canh phòng cẩn mật, trong một đêm tìm cách vượt biên giới, tóc bạc phơ. Đông Cao Công cảm kích tìm phương kế trốn thoát, sang nước Ngô, phò Hạp Lư, thôn tính nước Sở. Sau, Phù Sai lên ngôi vua, Câu Tiễn dùng mỹ nhân kế Tây Thi, Ngũ Tử Tư can ngăn, Phù Sai nổi giận chém đầu.

Thời Tam Quốc, Tào Tháo bỏ chạy và sau đó lập nên nghiệp dĩ. tào Tháo, Tôn Quyền vàn Lưu Bị trang giành quyền lực, chia trung Hoa ra làm ba. Người đời cho Tào Tháo là kẻ gian hùng nhưng PXS lại có cái nhìn ngược lại, đem lòng ngưỡi mộ:

“ta kẻ hậu sinh, giở lại pho sách cũ
mà khen ông đúng là bậc tài hoa
ta vỗ án thư thét lên khàn cổ
phải giải oan nầy mới thỏa được lòng ta”
(giải oan cho Tào Tháo)

Ta, Đất Nước, Tình Người

Trần Hoài Thư cho rằng thơ Phan Xuân Sinh ngậm ngùi như một dòng sông cũ mang theo những nỗi buồn của lịch sử và thân phận. Vâng, thời trai trẻ, PXS đã theo tiếng gọi của núi sông, gán bó với quê hương, đất nước vì vậy hình ảnh ấy vẫn canh cánh bên lòng. PXS mang trong lòng niềm đau trên đất khách:
“ta khách lạ lạc xứ người
manh hồn phương đông, văn vật”
(Chào New Orleans)

“ta một mình cuối bãi
lơ láo, kẻ cùng đường…
đứng giữa triền vực thẳm
ta thành đứa khùng điên”
(giữa đất trời, vật vã)

“đứng giữa lòng phố thị
ta làm tên thất thời…
,,, ta gian truân thấm mệt
khoanh tay nhìn tình trôi”
(bên kia nỗi nhớ)

Có lẽ, tâm trạng của PXS cũng là tâm trạng chung của nhiều người đã một thời sinh tử, gắn bó với quê hương. Ở đó, với bao hệ lụy, kỷ niệm buồn vui đã in đậm trong tâm tưởng.

“đứng bên bờ ta thử làm tráng sĩ
cứ nhìn theo người bước qua sông…
… ta chỉ biết ngó về sông nước cũ
tình đã sang cổ lụy mấy ai ghi”
(muộn màng)

“có một cái gì xôn xao rất lạ
để hồn ta bay theo lá vu vơ”
(lời tỏ bày cùng quê nhà)

“những tiếng kêu như xé nát lòng ta
thốn tận tim gan như lời trách móc
ta nghe như tiếng ai đang khóc
đầu ta dău như ai bửa làm đôi”
(quê nhà lũ lụt)

Qua bao năm xa cách, trở về cố hương, trở về nơi chôn rau cắt rốn, PXS vẫn như thuở nào với cảnh cũ người xưa.

“bao năm ta trở về chốn cũ
ngồi bên sông chờ chuyến đò qua
cây với ta một màu ủ rủ
người có hay ta lệ nhạt nhòa”
(bên sông nhớ người)

“ta cùng nhau uống giếng nầy
hình như giếng cũng mang đầy nhớ thương”
(bài lục bát cho Đà Nẵng)

“ta thèm chiếc xe trâu, thủng thẳng
trên đường làng ngất ngưởng chiều về”
(người lữ hành, lỡ chuyến tàu năm hai nghìn).

Kết

Qua năm mươi bài thơ được chọn lọc trong bốn thập niên với thi phẩm Đứng Dưới Trời Đổ Nát, cái Ta của Phan Xuân Sinh là nỗi niềm, tâm sự, khắc khoải, yêu thương… và hoài niệm trong tình bạn, tình yêu, quê hương.
Phan Xuân Sinh làm thơ vào đầu thập niên 60. Bài thơ đầu tiên Chiều Công Viên xuất hiện trên tuần báo Nắng Mới vào năm 1962. Và, trong năm đó anh được giải thưởng về thơ do Ty Thông tin Đà Nẵng tổ chức. Anh có vài bút hiệu, và cuối cùng trở về với tên tuổi bản thân.
Là bằng hữu, đọc lại từng bài thơ của anh, bao nhiêu kỷ niệm hiện về. Với thơ, với rượu, với bằng hữu, tha nhân… được dàn trải trong ngôn ngữ thi ca rất thật và sinh động.
Nếu có lần nào, ngồi bên Phan Xuân Sinh, uống rượu, nghe âm điệu trầm khuất qua giọng ngâm của anh, nhỡ có say cũng “cạn chén hồ trường”.

Cung Tích Biền
Giữa Hai Lằn Đạn

Nhân dịp Hội ngộ Liên Trường Quảng Nam – Ðà Nẵng vào đầu tháng 9 năm 2007 vừa qua tại Little Saigon, gặp lại bạn bè, nói chuyện thơ văn quê nhà, có đề cập đến nhà văn Cung Tích Biền. Cuộc phỏng vấn của Lý Ðợi được phổ biến trên trang web Talawas vào tháng 2 năm 2007, những điều Cung Tích Biền bộc bạch nói lên những điều uất khuất và rõ ràng, giải tỏa được phần nào những điều ngộ nhận trước kia và có sự cảm thông hoàn cảnh trớ trêu của anh. Tôi nói, trong giai đoạn đổi cả chế độ, đổi đời, hỗn mang… nhiều người cùng cảnh ngộ nghiệt ngã và cũng có trường hợp như nhà văn “cùng tất biến” nhưng cần nhận chân đâu là sự thật. Trong giới văn nghệ và báo chí, có bạn có thù, kẻ ưa người ghét, những gì nghe qua trong bàn trà, cuộc rượu, có vẻ mù mờ “tam sao thất bổn” không thể vin vào để viết, phê phán. Ðôi khi có những lời bàn tán mà người trong cuộc không biết gì cả, khi biết được thì chưng hửng và không biết phát xuất từ đâu! Dư luận cũng là con dao hai lưỡi và xác tín phải trải qua thời gian.
Cách đây vài năm, tôi đọc bài viết trên nhật báo Người Việt ở Little Saigon về nhóm Mở Miệng, gồm các người bạn trẻ Lý Ðợi, Khúc Duy, Nguyễn Quán, Bùi Chát. Lý Ðợi thực hiện tập thơ Bảy Biến Tấu Con Nhện, được thực hiện theo kiểu phong thư, bì thư là bìa, ruột thư là những bài thơ, chỉ photocopy với số lượng 100 bản nhưng bị tịch thu và thiêu hủy vào đầu năm 2004. Ở trong nước, mọi việc in ấn để phổ biến đều bị kiểm duyệt, không có phương tiện truyền thông trong tay, các bạn trẻ có vẻ lập dị để gây sự chú ý nhưng cũng nói lên cái gì đó sự đột phá của giới trẻ. Trong ngành truyền thông hiện nay, có thêm hệ thống internet tạo được cơ hội thuận tiện cho bất cứ cá nhân ở xã hội nào bị trói buộc, bày tỏ ý nghĩ, ngòi bút của mình. Sau đó, đọc vài bài viết của Lý Ðợi trên trang web Talawas và Da Màu, có thêm cây bút trẻ người cùng xứ nên để ý. Bài viết Ngày Xưa Vũ Hạnh của Lý Ðợi, tuy ngắn nhưng nói lên thái độ bất bình của giới trẻ với Vũ Hạnh “vu cho cái tội đồi trụy, phản động, và nên cho vào tù” khi bốn tác phẩm của Dương Nghiễm Mậu được Công ty Phương Nam ấn hành trong nước. Dương Nghiễm Mậu bị Vũ Hạnh và Mai Quốc Liên của tờ Văn Nghệ đem ra đấu trường tố cáo.
Về trường hợp nhà văn Vũ Hạnh, tôi đã đề cập qua bài viết Vũ Hạnh, Kẻ Hoạt Ðầu Văn Hóa, đăng tải trên tờ Saigon Times ở Los Angeles, số ra ngày 27 tháng 12 năm 1991 và các tờ báo ở hải ngoại. Mong người bạn trẻ Lý Ðợi đọc hết những bài viết của nhà văn “chụp mũ” Vũ Hạnh sau nầy để viết tiếp. Xin trích vài dòng trong bài viết của tôi về Vũ Hạnh:
“…có một lần, vào năm 1988, bài thơ của Trần Vàng Sao đăng trên tạp chí Sông Hương đã dùng từ “chí sĩ”. Vũ Hạnh viết bài đả kích, chụp mũ nhà thơ trên báo Tuổi Trẻ và Công An, từ “chí sĩ” ám chỉ Ngô Ðình Diệm. Tác giả và BBT Sông Hương bị kiểm điểm, đính chính! Lẽ nào ông không đọc Hoàng Lê Nhất Thống Chí và hình ảnh Ngô Thời Nhậm (Ngô Thời Sĩ)?”
(Việt Nam Tự Ðiển của Hội Khai Trí Tiến Ðức, Hà Nội 1931, định nghĩa chí sĩ là người có tiết tháo và trích dẫn hai câu trong phú chiến Tây hồ:” Gánh quân thân ai đã mỏi vai rồi. Kẻ chí sĩ làm thinh đi chẳng dứt”).
Với nhà văn Cung Tích Biền, qua bao năm im lặng, không hiểu vì lý do nào lại trả lời khá dài và đầy đủ chi tiết cuộc phỏng vấn với người bạn trẻ mới bước chân trong làng văn, nghề báo, không đại diện cho cơ quan truyền thông nào. Tôi đoán, với một người giàu kinh nghiệm và hiểu biết, có lẽ Cung Tích Biền phát hiện với “người phỏng vấn” có điểm gì đó mới “mở miệng”.
Qua cuộc phỏng vấn, cuộc đời Cung Tích Biền, nhà văn nổi tiếng ở thập niên 60, 70 ở miền Nam VN, với nhiều chi tiết mà trước đây có vài bài viết về tác giả chưa đề cập đến. Bài phỏng vấn chỉ được phổ biến trên trang web Talawas. Và, đây là cuộc phỏng vấn lâu nhất vì theo Lý Ðợi
“…lần đầu tiên tôi đề nghị thực hiện phỏng vấn trực tiếp nhà văn Cung Tích Biền là ngày 28-11-2003, nhưng do một vài lý do khách và chủ quan, lần đó bất thành. Lần thứ hai, tôi đề nghị và được ông đồng ý để thực hiện trực tiếp là ngày 28-10-2006 và bài phỏng vấn này sơ kết câu hỏi cuối cùng vào ngày 22-01-2007, hoàn tất ngày 28-01-2007.”
Tuy không gần gũi với nhà văn Cung Tích Biền qua năm tháng nhưng đồng hương với nhau, khi đọc bài phỏng vấn của Lý Ðợi, tôi cũng có ý định tìm hiểu thêm qua vài nhân chứng để viết vì nhân cách nhà văn sống còn với tác phẩm. Gần tuổi thất thập, nhìn lại bản thân, Cung Tích Biền tự khiển trách mình khi đối diện với thực tế và bẽ bàng trước chế độ mà thời trai trẻ tường rằng hay ho mà tâm sự được gởi gấm qua vài bài thơ của anh khi còn sinh viên ở Huế. Nói như O Wilde “Khi ta tự khiển trách thì dường như không còn ai khác có quyền khiển trách”, vì vậy, tôi ghi lại những gì biết được còn sự thật, trắng đen… minh định với thời gian. Bài viết không có tính cách nhận định về tác giả và tác phẩm (sẽ đề cập sau) mà thu tóm những điều nhà văn Cung Tích Biền “mở miệng” phối hợp với ý kiến các thân hữu thân quen với anh và tôi.
*
Cách đây gần nửa thế kỷ, nhân dịp Lễ Vu Lan, anh Cung Tích Biền và chị tôi cùng các huynh trưởng trong Gia Ðình Phật Tử tổ chức sinh hoạt văn nghệ. Hình ảnh vũ khúc Lên Chùa Dâng Hoa do anh sáng tác rất tuyệt vời, phần đầu với ca khúc Lên Chùa Dâng Hoa, phiên khúc anh lồng vào dòng nhạc mở đầu ca khúc bán cổ điển Sérénata của Enrico Toselli. Anh đàn mandoline rất hay, tôi mê vũ khúc và tiếng đàn; từ đó, chị tôi khuyến khích cố gắng tập luyện sẽ trở thành Trần Ngọc Thao thứ hai. Anh và tôi, cùng họ và chữ lót, cùng quê (Thăng Bình, quê ngoại của tôi) vì vậy, sau nầy, nhiều người hỏi tôi có họ hàng gì với Cung Tích Biền. Anh là huynh trưởng, bạn của người chị thứ sáu tôi, không họ hàng gì cả, và, tôi được biết anh trong sinh hoạt Gia Ðình Phật Tử từ đó,
Quen thân với Phan Nhự Thức khi tôi theo học Khóa I Nguyễn Trãi của Trường Ðại Học Chiến Tranh Chính Trị Ðà Lạt vào cuối năm 1966. Vì quân trường còn trong thời kỳ phôi thai nên phải gởi theo học giai đoạn I cùng với Khóa 24 của Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Lúc đó, Khối Chiến Tranh Chính Trị vừa thành lập ban biên tập SVSQ Khóa 23 và 24 cho tờ nguyệt san Thủ Ðức có Nguyên Sa, Lưu Trung Khảo, LS Trần Sơn Hà, Luân Hoán, Trần Hoài Thư, Hồ Minh Dũng, Chu Tân, Cao Thoại Châu, Lâm Chương, Phan Nhự Thức… và tôi. Thân tình Phan Nhự Thức từ đó, sau nầy có nhiều kỷ niệm gắn bó với nhau, Phan Nhự Thức cho biết rất thích hai cây bút của quê tôi là Vũ Hạnh và Cung Tích Biền vừa được nổi tiếng, nhưng tiếc rằng Vũ Hạnh đi theo con đường khuynh tả. Tôi nói, cả hai người là bạn với mấy người chị của tôi và cũng có óc địa phương nên sáng tác nào cũng đọc hết, và tôi cũng đồng quan điểm đó.

Sau thời gian lao tù và quản chế, năm 1987, từ Ðà Lạt về Sài Gòn, nghe tin Phan Nhự Thức còn sống lang bạt đâu đó nên đi tìm. Ðược tin anh Cung Tích Biền đang bán tranh sơn mài ở kiosque 28 trên đường Nguyễn Huệ, ghé thăm và gặp Phan Nhự Thức. Phan Nhự Thức cho hay, sau khi ra tù, chui về Sài Gòn, sống vất vưởng, nhờ Cung Tích Biền đưa vào làm ở hãng nước đá của người thân có mối quan hệ với chính quyền nên ăn ngủ tại chỗ, tránh được sự truy lùng thành phần sống chui, không hộ khẩu.
Bạn bè cho biết, Cung Tích Biền là Ðại úy trong Quân Lực VNCH nhưng không bị đi tù như anh em còn được tự do làm ăn, thành phần bên kia chiến tuyến… không nên giao thiệp. Câu đầu tiên tôi hỏi, có ám hại, phản phé ai không? Khi nghe trả lời không, tôi nghĩ rằng anh dựa “lá bùa” để yên thân khi thời cuộc thay đổi, ít ra, còn giữ được lương tri của con người. Theo Phan Nhự Thức, gia đình Cung Tích Biền bị phân đôi, có hai người tập kết, hai người là sĩ quan trong Quân Lực VNCH. Người anh tập kết, chết năm 1969 và thêm người anh, sĩ quan cấp tá Quân Lực VNCH, chết trong trại tù năm 1978, cả hai không tìm được xác. Và, bút hiệu Cung Tích Biền là tên ghép của các anh chị. Có lẽ Cung Tích Biền đã giải ngũ năm 1973 nên sau năm 1975, biết “lăng ba vi bộ”, có ô dù thân nhân tập kết và vài người bạn cùng quê như Huỳnh Bá Thành, Cung Văn Nguyễn Vạn Hồng… nên biết cách tránh né, mong an toàn mạng sống nhưng rồi cũng tan nát như chúng ta. Sau ngày 30 tháng Tư, cũng có vài sĩ quan trong văn giới mang bảng đỏ nhưng rồi bị thất sủng, vào tù, nay được định cư tại Hoa Kỳ.
Với bản thân Phan Nhự Thức, Cung Tích Biền là người bạn tốt, chân tình, trầm lặng, chấp nhận mọi thị phi để sống với vợ con. Sau đó, đôi ba lần, tôi ghé lại kiosque của anh, tán gẫu với nhau, tôi hỏi chuyện viết lách, anh cho biết, thỉnh thoảng viết lai rai, vì buôn bán tranh ở Pháp nên được vài tạp chí để đọc cho khuây khỏa. Qua ý kiển giữa bạn bè và tâm sự của Phan Nhự Thức, xa cách quá lâu và coi anh với hình ảnh huynh trưởng ngày xưa nên rất tế nhị khi giao tiếp; vả lại, mỗi người một hoàn cảnh, điều quan trọng đối với tôi, có bán rẻ nhân cách, xu thời, đạp lên mạng sống anh em?
Năm 1990, trước khi đi diện HO sang Hoa Kỳ, nhờ Trần Thanh Ngọc (khóa II ÐH.CTCT) đèo Huy Tưởng và tôi ghé thăm căn nhà tranh nho nhỏ của Phan Nhự Thức ở nơi xó xỉnh cuối phi trường Tân Sơn Nhất, xa Sài Gòn, làm nơi tá túc sau khi lập lại cuộc tình, bạn bè giúp đỡ tận tình, trong đó có Cung Tích Biền.
*
Qua những điểm chính về tiểu sử trong bài phỏng vấn Ðành Lòng Sống Trong Phòng Ðợi Của Lịch Sử do Lý Ðợi thực hiện với nhà văn Cung Tích Biền, trong đó có vài đoạn tóm lược trích dẫn.
Tên thật Trần Ngọc Thao, sinh ngày 8 tháng 2 năm 1938 tại Thăng Bình, Quảng Nam, trong một gia đình có truyền thống chữ nghĩa thơ phú. Năm 12 tuổi đã theo các anh các chị đi diễn kịch, đàn ca ở miền quê trong tỉnh. Năm 1954 ở lại quê nhà, anh em bà con ruột thịt, bạn bè, tập kết ra Bắc. Năm 18 tuổi, bị bắt ra nhà lao Hà Lam, quận Thăng Bình tra khảo. Bị ăn đòn bằng những khúc tre tươi, vỡ đầu, suýt bị phèo óc, bị đánh, khi khúc tre nát ra tua tủa như tăm xỉa răng, lại thay khúc khác. Rất may, vì mới tép riu, chỉ là ở trong vùng kháng chiến, chưa phải thành phần Cộng Sản nguy hiểm cần treo ngược lên xà nhà, tra điện, hay bó rọ thả sông.
Hồi còn học trung học đã tập tễnh làm thơ viết truyện ngắn. Năm 1958, được một giải thưởng truyện ngắn toàn Quảng Nam. Lúc học tại Huế, được một giải thơ của trường Quốc Học. Theo học Ðại học Văn Khoa ở Huế, đầu thập niên 60, một thời gian, phụ trách một chương trình thơ cho đài phát thanh Huế. Chương trình mang tên Con Tàu Thi Ca. Ngoài các chương trình thông thường, thực hiện ba chương trình liền nhau những nhà thơ tiền chiến đang sống dưới chế độ Hà Nội. Ðài cúp ngay cái đám miệng còn hôi sữa. Thế là chết yểu. Năm 1963, dạy học tại Ðiện Bàn Quảng Nam (lúc này anh còn gần gũi một số bạn thân mà một phần lớn trong số đó sau này đã ra khu MTGPMN) thì bị động viên vào Trường Bộ Binh Thủ Ðức. Ra trường, bị chính quyền Nguyễn Khánh có văn bản cưỡng bách cư trú tại miền Tây (Cần Thơ), không được về Trung, thời gian bốn năm. Năm 1967, thân mẫu qua đời, không về chôn cất. Mỗi tuần, phải trình diện An Ninh Quân Ðội Vùng 4 chiến thuật một lần vào ngày Chủ Nhật. Thấy Cần Thơ cũng chốn phồn hoa, An Ninh Quân Ðội đẩy đi xa hơn, được lệnh về Bạc Liêu. “Miền Nam Cộng Hòa có cái hay, nghi ngờ một sĩ quan động viên có liên hệ với Cộng Sản, tham gia phong trào sinh viên đấu tranh chống Ngô Ðình Diệm, từng sống trong vùng kháng chiến chín năm, có anh em ruột thịt tập kết ra Bắc, có liên hệ với bạn bè khá đông, rất thân quen, hiện đã ra khu Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, vậy mà cứ cho lên lon, thăng chức bình thường như mọi sĩ quan khác”.
Tháng 11 năm 1965, sáng tác truyện ngắn Ngoại Ô, Dĩ An Và Linh Hồn Tôi khi phục vụ tại Sư đoàn 21 Bộ Binh, lưu lạc tận Bạc Liêu., Sư đoàn 21 Bộ Binh. Tháng 3 năm 1966 truyện đăng trên tuần báo Nghệ thuật, lần đầu tiên, ký bút hiệu Cung Tích Biền. Bút hiệu nầy giữ mãi tới ngày hôm nay.
Từ 1968 đến 1973, mang lon Ðại úy Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Trú đóng ở tiền đồn, Ðức Hòa Hậu Nghĩa, năm 1970 về căn cứ Trảng Lớn, Tây Ninh. Năm 1973 giải ngũ, cư ngụ tại Sài Gòn.
Sau tháng Tư năm 1975, đi học tập cải tạo thời gian ngắn, cùng tổ với Mai Bá Trác và Nguyễn Quốc Chính. “Mất nhà cửa vì bị tịch thu, (duyên cớ là ở nhờ nhà chị vợ, chị đi Mỹ, nhân thể tịch thu, người ta hốt ráo bất luận của ai ra ai). Nghèo khó ra đi, vợ ra tới cửa nhào vô lấy cái nôi của đứa con thơ, bị cậu quận đội Tân Bình ngăn lại không cho. Con cái ra nằm trần trên nền đất lề đường. Sau, ở nhờ nhà thi sĩ Ðoàn Minh Hải…”. Chị Mai, hiền thê của anh nhỏ hơn 15 tuổi. Người Quảng Trị. Bên nội họ Hoàng. Bên ngoại Lê. Hồi trung học, học trường Ðồng Khánh, Huế. Vào Sài Gòn, ở nhờ nhà người cậu ruột là luật sư Lê Nguyên Phu, học trường Văn khoa, tốt nghiệp cử nhân Triết Tây. Có viết một số truyện ngắn đăng trên vài tập san văn chương, bút hiệu Hoàng Thị Kim. Lấy chồng, sinh con, bỏ viết. Trong khi đó “Cả một đời, vợ con tôi chưa hề mua được một vật dụng gì cho ra hồn, từ tiền nhuận bút của tôi”.
Ðã năm năm nay, chị ăn chay trường, với anh là hình ảnh người mẹ, người chị vì cam chịu và lo lắng cho chồng con. “Sớm mai thường trực tụng kinh. Chiều chiều đi chùa. Tối thường cúng kiếng trước cổng nhà, vãi gạo muối bánh kẹo ra đường”. Ðó là mái ấm

Cũng như hằng triệu người miền Nam thất sủng, đói khát bươn chải đủ thứ nghề, chạy xe ba gác, xe ôm chỗ Ngã Ba Ông Tạ. Ði làm thợ mây tre lá tuốt bên quận Tư cùng Chu Vương Miện và các thầy chùa ăn mặn, sướt máu bàn tay. Ra tận Bình Dương học nghề sơn mài bị sơn ăn sưng da phù mỏ. Ra đầu đường bán sách cũ, dọn vỉa hè bán cà phê bò kho, thu gom ve chai… Năm 1976 xuống tận Cà Mau làm cu ly xây trại nuôi heo cùng Thế Phong, Nguyễn Thụy Long.

Trong Hồi Ức 40 Năm Cầm Bút của nhà văn Nguyễn Thụy Long có đề cập đến thời điểm nầy. Tôi email hỏi thăm Nguyễn Thụy Long và anh cho biết:
“Sau ngày 30 tháng Tư năm 1975, tôi và Thế Phong, Cung Tích Biền xuống tận Cà Mau làm cu li, thời gian không dài lắm, vài ba tháng. Tổ hợp Việt Nam Kỹ Thuật bị giải thể vỉ chủ nhiệm Nguyễn Văn Ngơi, người quen của nữ văn sĩ Lệ Hằng bị bắt vì tổ chức vượt biên. Tổ hợp giải thể, ba chúng tôi trở về Sài Gòn, sau đó tôi bị bắt và đi tù đến năm 1980 mới trở về. Khi ra khỏi tù tôi gặp Cung Tích Biền, tình cảm vẫn như xưa dù CTB bị mang tiếng nhiều là người “cách mạng 30-4”, nhưng anh cũng chẳng hại gì ai hết, vẫn có những quý mên nhau như người xưa. Ðôi khi còn những có những giúp đỡ nhau thiết thực trong thời bao cấp… Như trường hợp thi sĩ Phan Nhự Thức bị bệnh ung thư và chết (tháng 11 năm 1995), tôi biết CTB lo cho bạn gần hết”
Khi đề cập đến tác phẩm của mình ở trong nước, theo Cung Tích Biền
“Ngay sau ngày 30 tháng 4 năm 1975 nhà nước Việt Nam đã có lệnh cấm (bằng văn bản pháp quy, có danh sách rõ ràng từng tên tác giả, tên tác phẩm) là cấm lưu hành, in ấn, tàng trữ bất cứ dưới hình thức nào hầu hết tác phẩm dưới thời miền Nam Cộng Hòa. Toàn bộ tác phẩm của tôi cũng nằm trong lệnh cấm này. Một lệnh cấm mang tính an ninh triệt để. Vi phạm là phản động, đi tù không cần tuyên án. Ðể yểm trợ cho lệnh cấm này có hiệu quả tuyệt đối đã có những đơn vị xung kích đi từng nhà, từng khu phố thu gom sách. Ðốt.
Tháng 8 năm 2005, theo sự chỉ dẫn của nhà văn Mường Mán (vì anh đã được cho phép sao lục tác phẩm cũ) tôi đến một thư viện tại Sài Gòn để xin sao lục những sáng tác của tôi trước 1975, nay với tôi là tuyệt bản. Tại đây, Thư viện Khoa Học Tổng Hợp, bảo tôi về làm đơn xin phép nhà nước.
Ðơn viết xong, nhờ vợ tôi ra phường ký xác nhận. Nộp đơn vào thư viện, lại phải viết tiếp một đơn khác xin sao lục, vì đơn ở phường mới chỉ có giá trị chứng cư trú.
Ðơn xin sao lục được chấp nhận lại phải làm phiếu đăng ký xin sao lục những gì, trên báo, tạp chí nào tháng năm nào. Phiếu đăng ký nộp vô, bị gạch bỏ một số không được sao lục, số được phép thì do nhân viên thư viện chụp hình in ra đĩa CD. Thư viện có một chiếc máy rất cũ, làm việc rất chậm. Tôi không được quyền mang máy ảnh, quay phim tư liệu vào thư viện để tự thực hiện, cho nhanh. Ðóng tiền trước ba trăm nghìn đồng.
Ðúng một tháng sau, y hẹn, tôi đến thư viện. Ðĩa CD làm xong nhưng tôi được lệnh là không cho phép nhận mang về. Lý do: “Truyện phản động, không được phép sao lục, chưa có phép lưu hành”.
Từ đây có một cuộc phản kháng. Tôi nói với cô Hương cán bộ thư viện là tác phẩm của tôi, tài sản tinh thần của tôi, tôi có quyền sao lục. Tác giả sao lục tác phẩm chính mình sao lại gọi là lưu hành. Mà dù tôi chống lại lệnh cấm, tôi lưu hành là quyền của tôi, sẽ do pháp luật can thiệp, bỏ tù tôi chịu. Thư viện giam giữ đã ba mươi năm tác phẩm của tôi mà không cho tôi sao lục là một hình thức chiếm đoạt tài sản”.

Thế nhưng “ Ðã hơn một năm trôi qua tôi chẳng thấy ai thực hiện một cách sòng phẳng, đúng luật chơi là ký, và trao cho tôi cái giấy, là một lệnh cấm đó cả. Ba trăm nghìn đồng tôi ứng trước nay vẫn còn nằm trong thư viện. Hơn một năm tôi chưa hề nhận được cái giấy mời hay một cú điện thoại đến trả lời dứt khoát… Tôi rất ung dung tự tại. Không hề buồn hay uất mần chi chuyện vặt này. Hơn ba mươi năm kinh nghiệm dạy cho tôi cung cách “nằm nụng” tại “lơi lày”. Rằng thì là lánh, lãng, lơ, lì, lừa, luồn lách, lật lọng, lờ, lâu, rồi quên…”
Khi email cho anh Hồ Nam (nhà thơ Vương Tân), tôi nói sẽ viết bài về anh Cung Tích Biền, cần biết rõ hư thực vì hai anh đã quen nhau trong nhiều thập niên, anh hồi âm cho biết, nên viết vì giải tỏa được vấn đề để trả lại sự công bằng trong văn học. Bài viết của anh Hồ Nam từ Sài Gòn, với tựa đề Cung Tich Biền và Những Biến Chuyển Của Lịch Sử vừa nhận được khi tôi đang viết.
“Cung Tích Biền (tên khai sinh Trần Quốc Thao sinh năm 1937 nhưng giấy tờ lai ghi 1938) được Mai Thảo khi làm chủ bút tuần báo Nghệ Thuật coi như một hiện tương văn học khi giới thiệu truyện ngắn đầu tay của Biền đăng trên tờ tuần san này.
Cung Tích Biền mặc áo lính học trường sĩ quan Hành Chánh Tài Chính, mãn khóa về một đơn vi Thiết Giáp đôi mũ nồi đen thường giao du với Nguyên Vũ và Tú Kếu nên đưa truyện dài cho Tú Kếu nhờ Tú Kếu giới thiệu với Chu Tử và Chu Tử không những đã chọn đăng truyện dài của Cung Tích Biền mà còn nói với tôi truyện dài của Cung Tích Biền viết không kém gì Nguyễn Thụy Long và trên chân Duyên Anh một bậc.
Dưới mắt tôi thời đó Cung Tích Biền chỉ là một người trẻ có văn tài và ‘’nhậu’’ vào loại hào sảng một người giao du được và chỉ thế thôi không gì khác hơn.
Ngày 30 tháng tư năm 1975 xảy ra người ta thấy Cung Tích Biền đeo băng đỏ đội nón cối cùng với Nguyễn Vạn Hồng (Cung Văn) đến tiếp thu Câu Lạc Bộ Báo Chí và có người còn nói Cung Tích Biền là Việt Cộng ”nằm vùng” cỡ thứ trưởng hay đại tá gì đó!
Sau những năm tôi đi tù cải tạo về phụ giúp Phạm Kiều Tùng bán quán báo ở góc đường Bùi Chu và Võ Tánh, Cung Tích Biền ghé thăm mời đi uống cà phê và nói ở nhà trên một cao ốc ở đường Nguyễn Huệ. Cung Tích Biền có một chai rượu ngon muốn mời tôi tới nhậu và tôi đã tới dù Nguyễn Ðình Ðông “tay hòm chìa khóa” của Chu Tử khuyên không nên ‘’giao du’’ với công an ‘’chìm’’ như Cung Tích Biền.
Mãi tới cuối thế kỷ hai mươi, khi Phan Như Thức qua đời (tháng 11 năm 1995) vì bệnh ung thư vợ con mang chôn ở Bình Hưng Hòa, tôi mới gặp lại Cung Tích Biền. Bữa đó Biền đọc ”điếu văn” khóc Thức như một tiếng nấc nghẹn ngào của phận ”kẻ sĩ” chịu nhiều oan trái (nhà thơ Phan Nhự Thức là chủ tịch Hội Ðồng tỉnh Quảng Ngãi) bị đi tù cải tạo, ra tù lãnh tờ giấy ra trại đề ngày ký 31 tháng Hai, khi đi phỏng vấn của chương trình HO phái đoàn Mỹ nói giấy tờ gì Thức cũng thừa điều kiện sang Mỹ đinh cư nhưng lịch của loài người không có ngày 31 tháng Hai. Thức cần điều chỉnh lại giấy ra trại một thư thông hành để đươc đi Mỹ Thức điều chỉnh tờ giấy này mất cả năm trời vừa được phái đoàn Mỹ báo chuyến bay thì lăn đùng ra chết vì ung thư!
Sang thế kỷ hai mươi mốt, một buổi trưa tôi nhận được điện thoại của Nguyễn Thụy Long báo Nguyên Vũ Vũ Ngư Chiêu muốn nói chuyện với tôi rồi chuyển điện thoại cho Nguyên Vũ nói chuyện với tôi.
Nguyên Vũ mời tôi đến uống rượu vang tại một quán chuyên bán đặc sản Quảng Nam gần Tịnh Xá Trung Tâm, vùng Gò Vấp.
Tại quán nhậu này tôi thấy bên cạnh Nguyên Vũ có Nguyễn Thụy Long và Cung Tích Biền. Bữa đó khi rượu ngà ngà rồi tôi hỏi Cung Tích Biền về chuyện đeo băng đỏ và tại sao Biền là Ðại úy Quân Lực VNCH không bị đi cải tạo. Cung Tích Biền nói cảm ơn câu hỏi của tôi để có dịp cho Cung Tích Biền giải tỏa sự hiểu lầm của nhiều người với Cung Tích Biền. Trước hết, Biền nói Biền đã giải ngũ trước ngày 30 tháng Tư nhiều năm vì là thương binh nên có trình diện đi cải tạo tại trường Dũng Lạc (Gò Vấp) nhưng ở đây cán bộ Việt Cộng cho về có lẽ nhờ Huỳnh Bá Thành (họa sĩ Ớt trung tá Công An Việt Cộng) nói giúp sao đó.
Cung Tích Biền thú thật có ngươi anh ruột là Việt Cộng đi tập kết đã chết ở Trường Sơn trước 1975 và giao du thân mật với Nguyễn Vạn Hồng và Huỳnh Bá Thành nên ngày 30 tháng Tư có hu hợ đeo băng đỏ chứ chẳng hề ”nằm vùng” bao giờ cả.
Cung Tích Biền không dấu chuyện có viết báo Công An thời Huỳnh Bá Thành làm Tổng Biên Tập, khi Thành ”đột tử” Cung Tích Biền bị ra rìa.
Cung Tích Biền thú thật làm văn nghệ có Ðảng lãnh đạo Biền chịu không nổi đã viết văn “chui” gửi cho Khánh Trường đăng trên tờ tạp chí văn học Hợp Lưu.
Nghe Cung Tích Biền nói, tôi bảo với Cung Tích Biền rằng Phật Thích Ca từng quả quyết rằng tướng cướp tới cổng chùa quăng dao đi nghe kinh và “đầu” cửa Phật, chịu khó tu hành cũng có thể trở thành Bồ Tát huống chi Biền chỉ “hu hợ” theo Việt Cộng nay đã nhìn thấy rõ con đường văn chương chữ nghĩa của mình và phản tỉnh, anh em có thể nói chuyện với nhau được. Có vấn đề gì đâu huống chi đây chỉ là ngộ nhận.
Bữa đó có mấy người mà chúng tôi uống hết hơn 10 chai Bordeaux, Nguyên Vũ có vẻ hứng lắm cười luôn miệng và tâm sự rằng rất tâm đắc với câu nói của Phật Thích Ca “tướng cướp quăng đao trước cổng chùa vào chùa nghe kinh có thể thành Bồ Tát”
Sau bữa nhậu đó, ít năm tôi thấy trên mạng bài trả lời phỏng vấn của Cung Tích Biền chứng tỏ con người Biền đã khá dứt khoát sau khi được giải tỏa những “ẩn ức” và Biền xứng đáng là một người cầm bút của thời đại hôm nay, ngòi bút chỉ vì Chân Thiện Mỹ không vì cái gì khác.
Trong cuộc gặp gỡ giữa người viết bài này chiều 11 tháng 9 năm 2007, tại quán bán đặc sản Ðất Quảng gần Tịnh Xá Trung Tâm. Cung Tích Biền cho biết Biền đang ung thư ruột già nên chương trình sáng tác chỉ lập cho từng ba tháng một và Biền đang viết bộ tiểu thuyết Chuồng Trại (cũng có tên la Truồng Chạy) rất đắc ý. Không biết Biền có hoàn thành kịp bộ tiểu thuyết này không vì ngoài ung thư còn tiểu đường nữa bệnh nào cũng đang ở giai đoạn nghiêm trọng có thể “chùa thua” bất cứ lúc nào.
Trả lời câu hỏi chết đi được đầu thai lại làm người Biền có muốn thay đổi thân phận không, Biền nói nếu được làm người nữa Biền chọn cái kiếp đang sống đầy oan khiên và bất trắc đã từng sống để tiếp tục sống.
Nói về chuyện tạp chi Da Mầu làm số đặc biệt về Cung Tích Biền cho biết thế kỷ trước tờ Hợp Lưu có ý định làm một số về mình Biền đã phản đối nay trên 70 tuổi rối Da Mầu làm số báo đặc biệt về Biền thì Cung Tích Biền đã đồng ý vì nghĩ mình đang gần đất xa trời không nên phụ lòng người mến mộ mình”. Hồ Nam
Cung Tích Biền cho biết “ròng 40 năm nay với bút hiệu nầy” và không viết bài nào đánh bóng chế độ trước cũng như sau 1975, “Từ khi được gọi là thành niên tới ngày hôm nay, tôi đã sống 21 năm trong nước Việt Nam Cộng hòa, 31 năm trong xã hội chủ nghĩa. Cộng lại hơn nửa thế kỷ. Tôi chưa từng dùng ngòi bút ca ngợi bất cứ một chế độ đương quyền nào”. Theo bài viết của Hồ Nam, không biết khi viết cho tờ Công An, dùng bút hiệu nào?
Theo họa sĩ Nguyễn Ðình Thuần ở Little Saigon, năm 1989 triển lãm tranh ở Hội Mỹ Thuật, nhờ Cung Tích Biền viết cho bài giới thiệu, khi gởi bài viết đến tờ Lao Ðộng nhờ đăng tải, thấy tên Cung Tích Biền, họ từ chối, phải nhờ người khác viết mới đăng báo.
Qua những năm thăng trầm, anh có được cơ ngơi với cái kiosque để sinh sống và nơi tá túc ở chung cư Nguyễn Huệ, trước dây, bạn bè nói với tôi vì có gốc gác. Theo họa sĩ Hồ Thành Ðức, bạn thân của anh từ ngày ở Huế, còn thuộc những bài thơ của anh mà tác giả không còn lưu trữ hay đã quên (như đã đề cập ở trên, anh được giải thơ ở trường Quốc Học). Năm 1977 Hồ Thành Ðức vượt biên, bị tù hai năm, sau khi được thả, Hồ Thành Ðức có quen biết với vài giới chức trong Hội Văn Nghệ nên được trông coi vài kiosque. Thấy Cung Tích Biền lông bông nên Hồ Thành Ðức giao cho kiosque để làm ăn và nhờ vậy xin được nơi cư ngụ ở chung cư Nguyễn Huệ. Còn vấn đề viết lách, không nghe Cung Tích Biền đề cập.
*
Hình ảnh sau ngày 30 tháng Tư, Cung Tích Biền được đưa lên báo “đeo bảng xanh, bảng đỏ” nhưng rồi bị tước đoạt tất cả, may mắn chỉ “học tập cải tạo” thời gian ngắn và làm lại cuộc đời trong hoàn cảnh trớ trêu. Trong một gia đình, bên nầy và bên kia chiến tuyến, không thể nào thoát khỏi oan trái xảy ra của mỗi chế độ, và người trong cuộc dễ bị ngộ nhận.
Giữa thập niên 60, sau thời gian xuất hiện với các truyện ngắn, Cùng Tích Biền tạo được thế đứng tròng làng văn, anh cho biết: “Có một thời gian, cùng lúc tôi viết feuilleton cho năm tờ nhật báo: Ðộc Lập, Ðông Phương, Ðiện Tín, Sóng Thần, Hòa Bình… Ngoài ra, còn viết mỗi tuần một kỳ hai trang cho tuần báo Ðời, do nhà báo Ðỗ Quý Toàn thư ký tòa soạn, họa sĩ Ðằng Giao trình bày, trang báo rất trang trọng, đẹp. Những truyện dài Bên Dòng Nước Biếc, Luống Cải Vàng, Bến Mưa Ngâu của tôi xuất hiện trên Ðời.
Cũng thời gian này, truyện dài Những Bọ Và Rắn được đăng trên tạp chí Quần Chúng do nhà báo Cao Thế Dung chủ trương. Truyện dài Trường Giang, đăng trên tuần báo Khởi Hành, do nhà thơ Viên Linh thư ký tòa soạn…
… Cho đến nay tôi chưa hề in một tác phẩm nào trong hơn 20 truyện dài đã đăng hoàn chỉnh trên các nhật báo Sài Gòn”.
Các tác phẩm đã được xuất bản: Ai Tỉnh Ai Ðiên (1968), Hòa Bình Nàng Tình Rỗng (1968), Nỗi Buồn Thắp Sáng (1969), Cõi Ngoài (1969)…
Nhà văn Cung Tích Biền thành danh, nổi tiếng qua nhiều tác phẩm trong thập niên 60, 70, quen thuộc với độc giả ở miền Nam VN, nhưng không hiểu vì sao ít có bài viết về tác giả và các tác phẩm văn học. Ở trong nước, tác phẩm của anh trước kia bị xếp vào bảng phong phần “truyện phản động không được phép sao lục, chưa có phép lưu hành”! Khi bị liệt kê vào bảng phong thần thì không có cây bút nào đá động đến và nếu có cũng không có tờ báo nào dám đăng tải. May ra có vài truyện ngắn sau nầy được đăng trong tuyển tập như Thằng Bắt Quỷ trong tổng tập Truyện Ngắn Việt Nam thế kỷ XX, NXB Kim Ðồng, truyện ngắn Không Thể Là Hiện Thực trong tuyển tập Ðêm Bướm Ma, NXB Văn Học…
Ở hải ngoại, các cây bút trong nước đã một thời quen thân với anh, hiện đảm trách tờ báo trong tay nhưng suốt ba thập niên qua, ít ai đề cập đến. Có lẽ họ ngần ngại thời điểm anh đeo băng đỏ nhưng họ không “cảm thông” khi anh bị đuổi ra khỏi nhà, sống vất va vất vưởng, nghể không ra nghề, thợ không ra thợ để sống còn. Với những gì anh đã nhận chân sự thật để nói ra, nếu đó là sự thật thì “Sự chân thành là cái danh dự của lương tri”, nói như Galerita.
Trong quyển Văn Học Miền Nam Tổng Quan của nhà văn Võ Phiến, NXB Văn Nghệ, ấn hành năm 1986, trong phần tác giả, tác phẩm có ghi đôi dòng về tiểu sử Cung Tích Biền nhưng trong trang sách, không một lời nhắc đến. Bộ sách Văn Học Miền Nam của Võ Phiến, NXB Văn Nghệ 1999, phần truyện gồm ba tập đề cập đến hầu hết nhà văn nhưng cũng không có Cung Tích Biền. Quyển Văn Học Từ Ðiển của Thanh Tùng, NXB Khai Trí năm 1973 và được ấn hành ở Hoa Kỳ năm 1990, chỉ liệt kê tổng quát tiểu sử tác gia, có vài tác giả chỉ có một, hai tác phẩm, chưa có tên tuổi, xuất hiện sau anh, cũng được đề cập nhưng không có tên nhà văn Cung Tích Biền.
Năm 1993, tập truyện Thằng Bắt Quỷ do Tân Thư ấn hành ở Hoa Kỳ. Gồm các truyện ngắn trước và sau năm 1975: Dị Mộng, Qua Sông, Ngoại Ô Dĩ An Và Linh Hồn Tôi, Trong Nghĩa Ðịa Xanh, Người Tù Tình Nguyện, Giao Thừa, Trên Ngọn Lửa, Lời Ảo Hóa, Rừng Ðôm Ðốm, Thằng Bắt Quỷ và Thừa Dư.
Trong các truyện ngắn sau nầy, Cung Tích Biền với bút pháp ẩn dụ, thế giới huyễn hoặc không bày tỏ thực trạng của cuộc sống như những tác phẩm viết trước năm 1975. Trong khí đó, độc giả mong ở nhà văn thành danh với ngòi bút sắc bén với cái nhìn hiện thực,
Hiện nay, cuốc sống gia đình được ổn định tại Gò Vấp, con gái lớn đã lập gia đình và ở Nam California. Tuy nhiên, anh vẫn mang nặng hình ảnh của hai người anh nên cuối bài phỏng vấn, Cung Tích Biền bày tỏ nỗi đau bây giờ, có hai người anh, bên nầy và bên kia đã chết mà không tìm được tông tích:
Người thứ nhất: ông Trần Ngọc Biền, bộ đội, chết năm 1969 tại Nghĩa Ðàn, Nghệ An. Người thứ hai: ông Trần Ngọc Tấn, Thiếu tá Quận trưởng Tịnh Sơn kiêm Quân trấn trưởng Quang Ngãi. Sau tháng 4 năm 1975, đi học tập và chết trong trại cải tạo. Gia đình chỉ được thông báo cái chết từ năm 1978 mà không biết nơi chôn cất. Cũng đã ở tuổi cổ lai hy, nếu được quy kết mộ hai ông anh ruột cũng là một thỏa lòng.
Trong tình nghĩa bạn bè thân tình với nhau cho rằng anh sống bạt mạng, đệ tử của Lưu Linh nên đôi khi cũng bất cần thân thể. Tuy nhiên, không tránh khỏi sự chê bai. Tôi nhớ, có lần người bạn nói với tôi Trần Hoài Thư “cao ngao, bộ mặt khinh khỉnh”, tỉnh bơ khi chào hỏi. Thật ra vì cận thị nặng, không nhìn xa được để đáp lễ nên bị mang tiếng và Cung Tích Biền thì nghe nói nhiều hơn. Ngày trước, mỗi lần Trần Hoài Thư từ núi rừng về Sài Gòn, tá túc ở nhà trọ Cung Tích Biền, ngồi quán cà phê, cả hai nhìn xa đều “mục hạ vô nhân” thì làm sao tránh khỏi lời chê trách “mục trung vô nhân”!
Thật ra, Cung Tích Biền chẳng vỗ ngực xưng danh “nhà văn nhớn” như vài người khác mà còn khiêm nhường. Qua câu hỏi của Lý Ðợi: “Vắng bóng trên thập kỷ rồi. Ông sẽ xuất hiện lại chứ. Ẩn danh mãi sao ông nhà văn?”. Cung Tích Biền: “Danh đâu mà ẩn. Chỉ là tìm chỗ trốn cái gió tanh mưa bụi. Tôi có một kho tàng sống qua mấy thời kỳ. Chỗ giáp ranh của thực hư, chính tà. Nửa tỉnh nửa điên…”.
Tròn hai thập niên, chưa gặp được anh. Với những gì biết được ghi lại, còn nhiều thiếu sót. Không gì hơn, đón nhận hồi ký của nhà văn Cung Tích Biền. Gần năm thập niên rồi, bên nầy bờ đại dương vẫn nhớ hình ảnh và ca khúc Sérénata:
“Viens, le soir descend
Et l’heure est charmeuse
Viens, toi si frileuse,
La nuit déjà comme un manteau s’étend…”.
Sống với nhau, sinh tử tử sinh, còn lại nhớ chăng ở đạo làm người. Mười bảy năm xa cách, mong có ngày cụng ly ở quán đặc sản Quảng Nam.

Tình Khúc Gởi… Nha Trang

Mùa hè đầu thập niên 60, từ Đà Nẵng, chúng tôi mở cuộc “hành phương Nam” vào thành phố Nha Trang. Dũng có người bà con ở dưới Cầu Đá, đã nhiều lần vào Nha Trang, mô tả vùng trời phương xa thật hấp dẫn, ba đứa còn lại được nghe bạn kể nên rất náo nức, được dịp rủ rê nên chớp ngay cơ hội sau vài ngày nghỉ hè. Bốn đứa mang theo hai chiếc xe đạp để tiện việc di chuyển, đáp chuyến xe đò Phi Long từ mờ sáng, đến Nha Trang vào lúc mặt trời lặn.

Hình ảnh thành phố biển nên thơ và dễ thương đó đã in đậm trong tôi theo dòng thời gian.

Giữa thập niên 60, tôi bước chân vào quân ngũ và hình như có duyên nợ với núi rừng cao nguyên, từ ngày tháng ở quân trường cho đến khi chọn đơn vị. Thỉnh thoảng có dừng chân nơi thành phố biển, và lúc chia xa, lòng còn vương đôi chút.

Bóng dáng Hà Nội, Sài Gòn, Đà Lạt… đã đi vào ca khúc, và khung trời Nha Trang qua dòng nhạc, lời ca của Minh Kỳ và Hồ Đình Phương tạo thành bức tranh huyền ảo, linh động, rất có hồn, khi nghe, gợi trong lòng nỗi nhớ thương man mác. Một nơi chốn với đôi nét chấm phá, thoảng nghe cũng mường tượng khung cảnh trữ tình:

“Nha Trang là miền quê hương cát trắng
Trông lên xanh êm màu trời
Nhìn ngoài nước thắm xa khơi…
… Nha Trang là miền khách du muốn tới
Cho phai bao nhiêu bụi đời
Để tìm nguồn yêu sống vui…
… Là đây biển tình bao la
Ngồi trông sóng chiều vươn xa
Lòng đôi lứa thề trăm năm duyên tơ…”

Có lẽ hình ảnh trong ca khúc “Nha Trang” chưa bày tỏ hết tâm trạng giữa cảnh và tình nên tác giả gởi thêm vào cung bậc trong “Nhớ Nha Trang”û để dàn trải tâm tư, tình cảm:

“… Từ ngày được trông Nha Trang, tôi càng mến yêu quê nhà:
Đây là đóa hoa muôn đời còn hương.
Từ ngày biệt ly Nha Trang, mỗi lần trông nắng vàng tới, xót xa hồn tôi…”.

Cảm nhận hình ảnh nơi chốn được thể hiện trong lời ca, tiếng nhạc là lẽ thường tình trong cuộc sống nhưng khi nơi chốn đó đã in sâu bao kỷ niệm, khi rơi vào nghịch cảnh, hoàn cảnh trớ trêu gắn liền với hệ lụy của cuộc đời, như vết hằn in sâu trong lòng, bao nỗi xót xa.

Cuối năm 1970, tôi thuyên chuyển về Nha Trang, không biết “được” hay “bị”, với cuộc sống lang bạt kỳ hồ, tôi chẳng có điều gì để quan tâm. Tôi biệt phái sang Trung Tâm Điều Hợp Tâm Lý Chiến Vùng II Chiến Thuật, Trưởng Ban Điều Hành, mỗi ngày chỉ viết vài tờ truyền đơn và vài dòng để phóng thanh nên công việc khá nhàn vì thế có dịp bù khú với bạn bè. Trung Tâm cũng nằm trong doanh trại của đơn vị gốc, thuộc khuôn viên của bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II, Pleiku. Bốn đứa kết thân nhau, la cà café và nhậu nhẹt đến nỗi Vũ Ngọc Hải, bạn đồng khóa, em ruột của đơn vị trưởng, không chịu về Sài Gòn lấy vợ.

Bà cụ gọi lên khiển trách ông anh thế nào không biết, rồi một buổi sáng âm u, ông gọi tôi lên cho biết phải tách bốn “cậu” ra bốn nơi để Hải lập gia đình. Đơn vị có địa bàn hoạt động khắp vùng II nên ông bảo tôi muốn phục vụ ở đâu, cho ông biết. Tôi không có ý kiến vì “Ở đâu cũng ăn cơm tháng, ngủ giường bố” nên để ông quyết định. Khi ông đề cập đến Nha Trang, tôi chịu ngay. Hai hôm sau, có xe đi công tác về Nha Trang, tôi vội vã lên đường. BS Nguyễn Trường Xuân, Y Sĩ Trưởng, về Sài Gòn học tiếp giải phẫu, Vũ Ngọc Hải về Cục An Ninh Quân Đội, còn Huỳnh Văn Hiếu, Trưởng Ban 4, trụ trì Pleiku. Khi về đến Quy Nhơn, lấy cớ thăm bạn bè, ở lại vài hôm. Gặp lúc mưa bão nên từ Quy Nhơn vào Nha Trang mất hết mười hai ngày, tưởng chừng đương sự mất tích.

Hình ảnh Nha Trang sau cơn bão lụt như giai nhân bị dập vùi trong bão cát. Trong mười năm qua, tôi vẫn yêu mến khung cảnh nên thơ đã bắt gặp từ dịp nghỉ hè. của thuở học trò. Từ đó, tôi rất thích hai ca khúc đề cập đến địa danh đã ru lòng mình về cõi mộng nhưng khi “chọn” được nơi đã từng ấp ủ, tôi lại rơi vào tình trạng bất đắc dĩ. Bởi đơn vị được “trú đóng” ở nơi tốt lành nên sĩ quan phải phục tùng và “biết điều” với đơn vị trưởng, còn tôi thì bạt mạng, ngang bướng nên khó hòa đồng, khó bề thích nghi trong môi trường không mấy tốt đẹp.

Hôm trình diện, có ông bạn gợi ý cò mồi về thông lệ, Sĩ quan ra mắt anh em với chầu nhậu ở Gió Khơi. Tôi phán ngay việc nhậu nhẹt là chuyện nhỏ nhưng chưa thân ít khi cụng ly, cạn chén hồ trường.

Thế nhưng, đệ tử của Lưu Linh, có máu văn nghệ, chẳng mấy chốc, có bạn bè đàn đúm. Lý Bạch đêå lại cho đời nhiều bài thơ bất hủ về rượu, trong đó có hai câu thơ rất mết:

“Cổ lai thánh hiền giai tịch mịch
Duy hữu ẩm giả lưu kỳ danh”

(Xưa nay thánh hiền đều lặng lẽ. Chỉ người uống rượu mới lưu danh).

Đơn vị “cấp” cho tôi căn nhà bỏ trống trong khu gia binh, căn nhà chỉ dành cho Sĩ quan có gia đình nhưng tôi không hiểu vì sao được “chiếu cố” như vậy. Buổi tối cuối tuần lai rai đôi ba chén với anh Vĩnh, Hạ sĩ quan Tiếp Liệu, anh hỏi tôi ở trong căn nhà nầy có thấy gì không? Tôi ngạc nhiên hỏi lại có gì mà thấy? Anh cho biết trước đây có người thắt cổ chết… Tôi rót chung rượu đặt ở vị trí người quá cố, lâm râm hai câu thơ của Nguyễn Bá Trác trong Hồ Trường:

“Trời đất mang mang ai người tri kỷ
Lại đây cùng ta cạn một Hồ Trường”.

Nơi tôi ở trở thành nhà vãng lai, có lẽ người chết kẻ sống đều thờ thần rượu Dionysos, Bacchus, đệ tử của Lưu Linh nên dễ thông cảm, xí xóa cho nhau. Hình ảnh Nha Trang năm xưa dần dà trở về trong lòng tôi, buổi tối uống café, thả bộ trên bãi biển, đêm về chén tạc chén thù với đồng đội, vô cùng thích thú.

Người bạn thân đầu tiên là Đoàn Trọng An, quê ở Vạn Giả, anh là người Công Giáo, tôi là Phật tử thuần thành ngày trước, cũng như Vũ Ngọc Hải, rong chơi với nhau quên cả bổn phận phải đi Lễ cuối tuần, và tôi cũng chẳng biết ngày Rằm, Mồng Một gì cả. Đôi khi tự biện minh, tuổi trẻ thời chinh chiến, nay còn mai mất, nếu có gì sai sót xin dành lại kiếp sau.

Trong dịp công tác, Đoàn Trọng An quen với cô giáo, người Hà Nội, chàng giới thiệu cho tôi. Và từ đó, Nha Trang với duyên nợ được ấp ủ trong lòng tôi trải dài qua bao thập niên với bao biến thiên trôi nổi theo thời cuộc. Tôi rất quý An ở đức tính chân thật, hiền lành nên bị cấp trên bắt nạt và lợi dụng. Cặp kè với tôi rồi cũng khổ thân, bị chuyển lên công tác ở Đà Lạt. Tôi giới thiệu lại cô em nhưng duyên nợ không thành.

Mùa hè 1971, tôi theo học Khóa 3 Trung Cấp CTCT, những lá thư tình rất tuyệt trao gởi cho nhau, xây dựng cuộc tình tương lai. Cuối năm đó, tôi đổi về Đà Nẵng, khi thưa với mẹ tôi chuyện lập gia đình. Mẹ tôi trố mắt rồi hỏi: “Có thật không con?”. Anh chị lại ngạc nhiên, lúc trú đóng ở Nha Trang không tính chuyện đó, về lại quê nhà lại lấy vợ phương xa. Mẹ tôi vui mừng cho đứa con út của người, dừng bước chân giang hồ để tìm về tổ ấm.

Người bạn thân kế tiếp là Nguyễn Kim Quý, gốc gác Nha Trang, anh và tôi không ưa với nhau từ lúc giáp mặt ở đơn vị. Trong dịp Tết Tân Hợi 1971, tôi làm Sĩ quan trực đơn vị trong ngày cận Tết, khoảng 11 giờ tối đêm 30, anh mang đến chai Whisky của miền Scotland và chơi trò đánh cuộc, ai thua phải trực.

Vừa uống vừa đem chuyện Kim Dung luận bàn về rượu với cuộc tao ngộ kẻ chánh, kẻ tà giữa Lệnh Hồ Xung và Điền Bá Quang trong Tiếu Ngạo Giang Hồ, tình bạn qua chung rượu với Kiều Phong, Đoàn Dự, Hư Trúc trong Lục Mạch Thần Kiếm, tình yêu nảy sinh giữa hai thái cực, minh giáo và tà giáo giữa Trương Thúy Sơn và Hân Tố Tố khởi nguồn từ chén rượu… Hình ảnh Mạc Đại tiên sinh gầy gò với lưỡi kiếm mỏng manh dắt trong đáy dao cầm, trong quán rượu có chín gã hán tử ngồi nhậu bố lếu bố láo, vì không biết nên vô tình xúc phạm đến tên ông, ông già chỉ hoa tay với làn ánh sáng lấp lánh rồi bỏ đi, cơn gió thoảng qua, chín cái miệng chén bị cắt đứt bằng nhau rơi xuống mặt bàn, vỡ tan…

Tán gẫu với câu chuyện bên chai rượu trong nửa giờ đã hoàn thành xong nhiệm vụ đánh cuộc được giao phó, tôi chiếm thượng phong nhưng rồi bảo anh về ăn Tết với gia đình, tôi làm bổn phận kế tiếp với giấc ngủ dài trong ngày đầu năm. Từ đó, chúng tôi có dịp chuyện trò với nhau, sau đó anh biệt phái sang phái đoàn thông dịch ở xứ Chùa Tháp, tôi đổi về Đà Nẵng, rồi cả hai cùng thuyên chuyển về quân trường ở Đà Lạt, trở thành đôi bạn thân.

Với Kim Thanh Nguyễn Kim Quý, kỷ niệm tình bạn trong hai mươi năm qua, bài viết “Một Bông Hồng Cho Người Cựu Tù Nhân Chính Trị” trên nhật báo Người Việt (28-7-1991) tôi viết về anh và nhân cơ hội giới thiệu luận án Tiến sĩ văn chương Pháp “La Prison Chez Stendhal” dày 520 trang, vừa được hoàn thành tốt nghiệp. Tháng 3-1992, anh tham dự Hội Thảo Quốc Tế Stendhal tại Paris và thuyết trình đề tài “Stendhal, Paris et Le Mirage Italien”. Tôi giới thiệu tiếp khuôn mặt người bạn trên báo chí ở Quận Cam vào tháng 4-1992.

Anh và tôi cùng cảm nhận được ngòi bút của nhà văn Pháp ở thế kỷ XVIII đã để lại trong tác phẩm “Những nhân vật nữ đẹp tuyệt vời và thế giới ngọt ngào hương phấn, nửa hư nửa thực… Tôi yêu Stendhal có lẽ vì cùng nỗi lãng mạn như những nhân vật ông tạo dựng, cô đơn, đi bên lề xã hội, suốt đời ôm ấp trong tay ảo ảnh một thiên đường đã mất, nơi đó tình yêu không có vết nhăn, không có lọc lừa, không có phản bội” (Kim Thanh – Betima & Mùa Xuân).

Stendhal thời trẻ, chán ngán Paris, lưu lạc xứ người, bị ngộ nhận là kẻ đánh mất quê hương nhưng cuối đời ông trở về chết nơi quê nhà, với ông, quê hương như vòng tay của người mẹ hiền, lúc nào cũng mở rộng vòng tay đón nhận đứa con hoang quay về trong lòng mẹ…

Nguyễn Kim Quý dạy Pháp văn ở Đại học Eastern Washington University nhưng thuộc loại bất cần đời, tính nết cũng hơi phách đôi chút nên bị kỳ thị, bỏ dạy về Oregon làm công chức, lập lại cuộc đời sau thời gian trong chốn lao tù, tan vỡ cuộc tình.

Với tôi, ngòi bút của Kim Thanh chỉ nhắc nhở đến hình ảnh con ngựa bất kham, bạt mạng lại có mái ấm gia đình.

Cảm tạ Nha Trang, cảm tạ bạn bè đã đưa con ngựa chứng về nơi biển trời mênh mông, bát ngát, rất thân tình.

“Nha Trang ngày về, mình tôi trên bãi khuya
Tôi đi vào thương nhớ, tôi đi vào cơn gió
Tôi xây lại mộng mơ năm nào
Bờ biển sâu, hai đứa tôi dìu nhau.
Năm xưa, biển nầy người yêu trong cánh tay
Đêm nay còn cát trắng, đêm nay còn tiếng sóng
Đêm nay còn trăng soi, nhưng rồi
Còn mình tôi trên bãi khuya khóc người tình…
… Nha Trang biển đầy, người yêu không có đây
Tôi như là con ốc, bơ vơ nằm trên cát
Chôn sâu vào thân xác lưu đày
Dã tràng ơi! sao lấp cho mối sầu nầy”

Trót theo chồng nên rời xa quê hương cát trắng. Năm 1972, nhà tôi đổi lên dạy học ở Đà Lạt, sau 1975 tiếp tục cuộc sống nơi xứ lạnh. Mỗi năm, cứ hai lần vào dịp Tết và hè, nhà tôi đưa con cái về Nha Trang sum họp với đại gia đình.

Mùa hè năm 1982, tôi trở lại Nha Trang sau những năm trong vòng lao lý. Thăm bãi biển Nha Trang, nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm không bao giờ phai. Tôi lặng lẽ đi dưới ánh trăng thượng tuần tỏa ánh nhạt nhòa trên bãi cát. Tình khúc “Nha Trang Ngày Về” của Phạm Duy như nỗi lòng, tâm trạng của kẻ chiến bại, mang nỗi khổ đau với bao vết hằn chồng chất đang tìm về nơi thiên đường đánh mất. Đâu rồi “con đường tình sử” của Bá Đa Lộc, mỗi lần thả bộ, nhà tôi lại nhắc đến những hình ảnh bạn bè giữa thập niên 60, năm Đệ Nhất A của trường Võ Tánh; Đâu rồi những góc phố thân thương, những hàng quán ban đêm với món ăn mang đặc sản Nha Trang… tất cả đã chết theo thời gian và còn lại nơi đây cảnh đìu hiu của “đất Hán Hồ”. Đâu rồi “Những người muôn năm cũ. Hồn ở đâu bây giờ?” (Vũ Đình Liên)…

Mỗi lần về Nha Trang, tôi ghé lại thăm Nguyễn Cư, được bạn ta cho uống café vàø kể chuyện đời. Nhà tôi và bà xã của Nguyễn Cư cùng học với nhau từ trường Nữ Trung Học đến trường Võ Tánh Nha Trang. Ngôi nhà của chị trên đường Độc Lập có hai căn, một căn là nhà thuốc bắc Nam Sanh Đường, một căn mở quán café 108. Tôi thường đến quán cahé nầy và có một kỷ niệm khó quên. Cuối tháng 6, 1971 tôi hẹn với người tình đi uống café, trước giờ hẹn tôi ghé lại quán bida trước tiệm café 108, bị kẻ đạo chích móc cái ví sau túi quần Jean. Sau thời gian đôi tình nhân ngồi uống café tâm tình với nhau, đến khi trả tiền, sờ váo túi sau, cái ví bay mất, tôi lặng lẽ tháo cái đồng hồ Seiko để cầm. Em gái chị Mai Lăng nói “Anh chị quen thân với anh chị em, khi nào trả cũng được”. Thản nhiên đưa người tình về nhà, khi quay lại quán tìm thì thấy cái ví nằm dưới bàn bida, chỉ mất tiền lương vừa lãnh, giấy tờ vẫn còn nguyên. Khi tôi kể lại cho người yêu biết, nàng lại “mến” cái tính lãng tử của tôi và trách sao không nói để “em trả tiền”! (Bây giờ mà xảy ra như vậy, bu nó không thể nào “mến” cái lãng tử mà phán “con nào móc rồi chứ gì? Bỏ mẹ sa trường…).

Tôi mới chợt hiểu rằng tại sao bao nhiêu lần về với gia đình, chưa bao giờ nhà tôi ra biển một mình, trong cô đơn, chỉ có nước mắt, chỉ có tiếng thở dài cho thân phận. Mồng Một Tết Mậu Ngọ 1979, Thành, em ruột của nhà tôi, vừa tròn hai mươi, tổ chức cuộc vượt biên cùng bạn bè trong đội banh ngay Bưu Điện – Quán Gió Khơi ngày trước, Thành giấu kín người thân trong gia đình, chỉ tin cho nhà tôi biết trước lúc đi. Rồi Thành đã vĩnh viễn ra đi, bóng chim tăm cá. Từ đó, nhà tôi sợ nơi chốn tuyệt vời như sợ mũi tên đâm vào lồng ngực!

Tôi trở về lang thang nơi chốn cũ với nỗi niềm mà Erich Maria Remarque chọn làm tựa đề trong tác phẩm “Một Thời Để Yêu & Một Thời Để Chết” trong bối cảnh sau Đệ nhị thế chiến.

Chia tay Nha Trang, hè 1990, đôi tình nhân ngày xưa qua năm tháng thăng trầm, bất hạnh mới tìm được giây phút êm đềm bên nhau giữa mây trời và cát biển của ngày tháng cũ.

Giã biệt Nha Trang, giã biệt khung trời ngày cũ trước giờ rời bỏ quê hương.

Bao năm trôi qua, xa cách quê nhà, tôi vẫn mong có được ngày về để khe khẽ hát “Nha thành mến yêu, một ngày trời sang mùa mới… Gió ơi! gió ơi! ngân hòa thêm tiếng lòng tôi”.

Với niềm ước mơ, một ngày nào đó, hai mái tóc bạc màu ngã mình trên bãi cát, ôn lại kỷ niệm xa xưa để hàn gắn lại lớp bụi thời gian.

Vương Trùng Dương

Vương Hồng Ngọc

Vuong_Hong_Ngoc 1

Gác Ngọc Lầu Thơ

Ta còn đây một cõi Thơ
Gọi trăm con mộng ru hờ giấc miên
Tìm về một cõi mộng riêng
Đem ta trốn cuộc ưu phiền thế nhân

Kéo về xanh phiến mây trong
Vẽ lên ngày nắng cho hồng giấc mơ
Góc riêng dựng sẵn lầu Thơ
Giấy hoa đợi mực nghiên chờ bút thi

Gác ngọc có khói huyền vi
Mở ra trăm lối vân vi dấu hài
Hồn Liêu du mộng giấc Trai
Lời hoa gấm đợi trang đài bước Thơ

Một mai đã mỏn giấc chờ
Tiển ta Thơ với đôi bờ Sao Trăng
Tình về thắp nến đăng quang
Khấn câu thơ đốt rắc tàn mộ thi

Nén Hương
Cho Tháng Tư

Gió tháng tư về trời lành lạnh
Chắc các vết thương lại râm đau
Chừng như dấu cắt còn âm ỉ
Mùa về rưng rức nỗi Xưa /Sau

Tháng Tư nghe trùng trùng bão động
Người đi tìm sống giữa biển Đông
Những bàn tay mỏi. mòn vẫy gọi
Tuyệt vọng buông đời giữa cuồng phong

Tháng Tư giẵm lên nhau mà chạy
Biển người hối hả ngược trời Nam
Tiếng đạn tiếng bom gào tiếng khóc
Hỗn mang địa ngục giữa trần gian

Tháng Tư lòng mừng ngưng tiếng súng
Sao lệnh tan hàng nghe rát tim
Tiếng ngựa rã bầy kêu thống thiết
Động hồn sông núi dội rừng thiêng

Tháng Tư ngọn cờ buồn kéo xuống
Tức tửi thở hơi cuối đời nhau
Tiếng súng giữ thành buông tiễn biệt
Một dải giang sơn nhuộm đẫm màu

Bóng ngã nghẹn lòng rời yên ngựa
Lặng đếm đời mình giữa rừng sâu
Để lại những đôi vai gầy guộc
Gánh đời. Tay vuốt giọt mưa mau

Tháng Tư ngậm nghe niềm tủi nhục
Vận nước ai bày đến trắng tay
Hấp hối Sài Gòn giờ bức tử
Vết đen lịch sử thuở nào phai

Lúc mảnh cơ đồ liền một dải
Là khi muôn ngả rẽ dòng. trôi
Khóc con lên núi con xuống biển
Lệ Mẹ Âu Cơ chảy đến giờ

Tháng Tư tưởng niệm niềm đau lớn
Thăm những linh hồn chưa ngủ yên
Thắp nén hương lòng dâng sông núi
Thấy lá cờ đau vẫy hồn thiêng

Giữ Lại Hương Thu

Chiều Thu vừa trải làn sương mỏng
Hàng cây nghe lạnh nỗi trơ cành
Lá khô cong mình vàng nỗi nhớ
Ngậm ngùi thương tiếc tháng ngày xanh

Xôn xao cơn gió mùa theo vội
Tả tơi vạt áo gấm Thu vàng
Tan tác lá bay đi muôn ngả
Rừng ngẩn ngơ buồn trên nát tan

Nhè nhẹ bước trên muôn xác lá
Mà nghe vời vợi những biệt ly
Em đi tìm dáng mùa Thu cũ
Nghe dòn tan vỡ mỗi bước đi

Vẫn cứ từng mùa ra bến hẹn
Chờ giọt Ngâu về kể nỗi chung
Trăm năm còn cách xa bao dặm
Bóng mơ hạnh phúc vẫn muôn trùng

Sầu em như lá làm sao đếm
Buồn trĩu mây trời gửi gió đi
Tiễn mùa chỉ tiễn đưa đôi dặm
Giữ lại hương thu nét xuân thì

Khúc Biển Ca
* Viết thay những
tấm lòng và những “bờ vai”

Khi nào nghe lòng mình như mở hội
Nhịp tim yêu rộn rã khúc nhạc vui
Lòng ta đó dạt dào muôn sóng vỗ
Sẽ cùng em vỗ chung nhịp yêu đời

Khi nào thấy lòng băn khoăn nghi ngại
Những sầu tư không có lối đi/về
Lòng ta đó rộng dài không bờ bến
Cho sầu em trôi về cõi mù khơi

Khi nào thấy Tin Yêu dần phai lạt
Hãy về đây để thấy biển mặn nồng
Lòng xanh thắm nghìn đời không thay đổi
Sóng bạc đầu vẫn vỗ nhịp trăm năm

Khi nào thấy biển đời mù suơng phủ
Lòng em chùng bao nỗi nhớ đầy vơi
Biển lòng ta điệp trùng muôn sóng vỗ
Chở dùm em bao nỗi nhớ xa đời

Khi nào thấy lòng đời như eo hẹp
Hãy về đây căng buồm mộng phiêu bồng
Sóng sẽ đưa em đầu nguồn cuối bãi
Khắp lòng ta để thấy biển mênh mông

Khi nào nghe giấc mơ đời mòn mỏi
Nhọc nhằn trôi buồn bã nhịp lăn trầm
Ta sẽ gọi trăng, sao, cùng mây gió
Gom sóng lòng ru em khúc biển ca.

Vương Hồng Ngọc

Vũ Khắc Tĩnh

Vũ Khắc Tĩnh

Thuở Hồng Hoang

Ai rồi cũng có một thời
Rủi ro vô kể trong lời than van
Hoa, nhan sắc cũng lụi tàn
Dưới mồ xương cốt cũng tan xác phàm

Rối ra rối rít phương Nam
Bàn tay thô thiển chắng kham dễ dàng
Lanh nơi âm phủ lạnh sang
Giàu nghèo sinh tử thở than làm gì ?

Khi đứng lại tiễn chiều đi
Vô vi vô vị cái gì cũng qua
Tượng đá tượng gỗ lên chùa
Ngồi chơi xơi nước mút mùa ngồi chơi

Thiếu một đồng cũng nợ đời
Huống chi sông nước đầy vơi vô chừng
Bao nhiêu xương máu rưng rưng
Nằm oan dưới mộ trên rừng núi non

Vườn em trái cấm căng tròn
Không che thì để ví von với đời
Cái gì rồi cũng rụng rơi
Dường như mọi thứ trên đời hư vô

Phủi tay sạch nợ giang hồ
Cùng lắm cũng được nấm mồ nhân gian
Giờ ngồi lại cõi nhân gian
Như thuở trời đất hồng hoang mù mờ

Mùa Gió Chướng

Chiều đi qua còn ta đứng lại
Trời Sài gòn lất phất mưa bay
Mùa chuyển mùa hanh hao gió chướng
Nơi đi về còn bám bụi hai tay

Tha nhân hởi ! nữa đời lưu lạc
Mộng vá trời lấp biển vô phương
Nên dong ruỗi cùng trời cuối đất
Lại quay về nương náu tha hương

Đường chiều nay lá rơi lả tả
Một thoáng hơi se, một thoáng mù
Một thoáng buồn cũng làm quay quắt
Ai về qua giấc mộng phù du

Một ngựa một ta đường gió bụi
Đêm cũng vàng theo chiếc lá bay
Nắng với hai sương đường muôn ngã
Huyễn hoặc ta một túi càn khôn

Huyễn hoặc ta một đám cô hồn
Về múa hát bên trời viễn mộng
Mộng vỡ ta đùn trong hơi thở
Buôn bán làm thơ cơm áo qua ngày

Đi đứng dưới hai vầng nhật nguyệt
Vẫn quẩn quanh chiếc bóng bên mình
Tiền nhân hởi của ngàn năm trước
Ta đời sau còn mất giữa phù sinh

Ai lên quan ải mờ nhân ảnh
Ta cũng như em có một quê
Một mai dừng bước chân lưu lạc
Nặng nghĩa tình thâm sẽ ghé về

Về Phố Đi Em

Cầm tay ta dắt em về
Núi non sương gió lạnh tê buốt rồi
Thôi thì về phố ta thôi
Lang thang tìm một chỗ ngồi tịnh tâm

Sài Gòn thường mưa lâm râm
Tạt vào hiên phố trú chân tạm thời
Rồi đi ngắm cảnh dạo chơi
Phải chi níu được lại thời trẻ trung

Phải chi trong cõi vô cùng
Khối u dễ vỡ mụt ung nhọt này
Về đi em Sài Gòn nay
Là nơi nương náu tháng ngày lang thang

Chiều trên phố xá vang vang
Sao nghe bao chuyện ngổn ngang đường về
Núi non sương buốt lạnh tê
Cầm tay ta dắt em về phố chơi

Sài Gòn – Chợ Lớn tuyệt vời
Ngây người như thể từng lời thôi miên
Nắng tháng chạp mưa tháng giêng
Vô tăm vô tích em biền biệt tăm

Ta tan trong bóng nguyệt rằm
Em về lót chỗ em nằm làm thơ
Như trong cổ tích gã khờ
Cầm tay ta dắt em thờ ơ đi

Bên Trời Tha Pương

Gặp người với những vần thơ
Trăm năm một thoáng bên bờ xiêu cư
Gặp người thực thực hư hư
Chẳng lẽ chỉ thế này ư…trong đời

Chẳng lẽ là một cuộc chơi
Làm thơ nói dóc vẽ vời rồi thôi
Qua sông mới đến ngọn đồi
Chừng như chim mỏi cánh rồi đường bay

Thơ văn có làm ta say
Hay giấc mơ ngủ trên tay gã khờ
Gặp người với những vần thơ
Trăm năm một thoáng bên bờ tử sinh

Nghe chuông mõ bỗng giật mình
Bay theo vô lượng giọt kinh vô thường
Gặp người về lại cố hương
Ta là một kẻ qua đường rong chơi

Cảm ơn người cảm ơn đời
Tần ngần ta đúng bên trời tha phương

Chiều Sài Gòn
Đã Uống Cạn Ly Bia

Chiều nhà hàng
Khói bay lơ mơ tàn thuốc
Cô bé bỏ thêm cục nước đá
Rót bia
Vội vã đi
Vội vã ngồi trên ghế
Để cặp giò tròn căng
Bó sát trong lớp quần vải thun
Giấc mơ tôi lộn ngược
Bỏ quên bạn bè ngồi
Một mình
Ngơ ngác nhìn em
Mong em vẫn đẹp dịu dàng
Nép mình bên hoa cúc, hoa hồng, hoa lan, huệ
Giấu giấc mơ tôi
Sau làn khói thuốc
Tàn

Tôi, bạn bè tôi
An cư lạc nghiệp
Trện những bước chân lang bạt thời gian
Được mất thân phận
Xoay vần
Ngẫu hứng chiều Sài gòn
Đêm buông
Vi vút gió ngoại ô
Về

Bóng Đêm

Căn phòng chật
Thời tiết nóng không ngủ được
Lách mình qua khe cửa
Trên bâng công người hàng xóm
Thoang thoảng mùi hương hoa lài
thơm ngào ngạt

Trên đường phố
Cô gái vừa đi vừa gõ lốc cốc
Khản giọng mời hủ tiếu
Tiếng rơi lạc lõng trong đêm
Ông già mở hé cánh cửa
Đứng nhìn
Kéo cánh cửa sắt
Để lại phía sau
Tiếng ho khan kéo dài

Trong bóng đêm
Cặp tình nhân đi ăn khuya
Cô bé kể lại giấc mơ
Con đường ngắn hơn bàn chân
Đi hoài mà không thấy tới đích
Anh chàng lắng tai nghe
Thất vọng
Vậy mà cũng kể
Cô bé hắt ra tiếng thở dài
Để lại phía sau bóng đêm
Một sự yên lặng đáng sợ

Trong bóng đêm
Tiếng rao mời hủ tiếu
Mỗi lúc mỗi xa
Không ngủ được
Chẳng có một ai đến tìm ta
Để nói với ta
Về một thế giới không có bóng đêm

Nơi Tôi Ở, Sài Gòn

Buổi chiều Sài gòn, trên con đường nơi tôi ở
Nơi nắng gió trên những hàng cây
Nơi những chiếc lá vàng rơi bay lơ lửng
Bay lửng lờ….
Nơi những cơn mưa chiều
Bất chợt rơi xuống giữa cái nắng nóng chói chang
Của mùa hè

Có làm tôi vơi bớt những nỗi buồn ?
Theo lớp bụi thời gian xóa đi không còn vết tích
Bỗng dưng làm cho tôi nhớ đến cái tên
Nhớ hình bóng, nhớ cặp mắt trong veo
Một thời còn là thiếu nữ
Ẩn hiện lên khuôn mặt đầy luyến tiếc, tiếc nuối
Về một thời xa xưa

Nơi ấy bước chân thời gian đi vào quên lãng
Rung động, càm xúc dâng trào trong tôi
Và những câu thơ nhảy múa trước mắt
Và những lời thưa gởi trình tự
Xếp vào ổ nhớ trên Facebook

Tôi lặng lẽ dở từng trang trên dòng thời gian
Để tìm hình ảnh về mình
Chỉ một tiếng thở dài
Dài như một nỗi buồn
Mang theo những tháng năm trong cuộc hành trình
Rong rêu của tôi

Nỗi nhớ của tôi
Rồi cũng lặng lẽ tan vào cơn mưa chiều
Lặng lẽ tan bay theo nắng gió trên những hàng cây
Chấm hết một ngày dài
Ngồi buồn thảm trong căn phòng nhỏ nhoi
Nơi tôi ở
Sài gòn.

Chỉ Là Phù Vân

Thuở cha ông vào sinh ra tử
Đã ngủ yên trong mộ cổ, cỏ xanh rì
Ta con cháu mang dòng họ Vũ
Mấy mươi năm rồi chẳng quản ngại chi

Đi giang hồ chỉ là giang hồ vặt
Cũng rêu rao làm điệu bộ tấm thân
Bù khú với nhau dăm câu chuyện cũ
Lãng đãng quanh mình một bóng phù vân

Có khi chưởi đổng cho bỏ tức
Những con người vinh thân phì da
Nô bộc của dân mà tha hóa
Cũng hô hào vỗ ngực nghĩa khí ca

Ta thì túi bụi nghề buôn bán
Còn thì giờ đâu đọc báo, xem ti vi
Lặng lẽ sống bên đời khinh bạc
Nợ tang bồng hổ thẹn với sử thi

Gặp bạn bè chỉ có thơ với rượu
Mấy mươi năm ngẫm lại chẳng tiếc gì
Ngồi uống cạn chén rượu đời lở dở
Rồi đứng lên nhìn phía trước bước đi

Rồi một ngày nào đó ta đứng lại
Tay ôm đồm một cõi vô thinh
Nắng nóng trên đường làm ta chóng mặt
Giờ còn em sương khói một chút tình

Huynh Đệ

Nâng ly rượu uống mừng huynh đệ
Tỏ chút tình thân bấy lâu nay
Ở nơi đâu biệt tăm biệt tích
Đi cũng như về chẳng ai hay

Huynh đệ thời nằm gai nếm mật
Bữa lên rừng xuống biển đã đời
Có người yêu dễ thương biết mấy
Cũng bỏ đi giờ bặt tăm hơi

Ly rượu tình thân ly rượu cạn
Chưa say mà mắt đã lù đừ
Huynh đệ ta bên trời chạng vạng
Lang bạt giang hồ cũng an cư

Có những đêm ngủ gà ngủ gật
Thấy em xưa một thoáng mù mờ
Cũng có khi như con lật đật
Tức khí nhìn rồi cũng làm ngơ

Huynh đệ hàn huyên tâm sự vụn
Trên trời dưới đất cũng vòng vo
Có ai hay trăm năm thế kỷ
Trườn trượt bò như con sâu đo

Huynh đệ ta về vườn ở ấn
Gác kiếm cung cuốc đất trồng rau
An nhiên sống cuộc đời hữu hạn
Gặp gỡ thì bù khú với nhau

Hôm qua ta nằm thấy ta
Trong giấc mơ trốn về nhà Bình Dương
Có mơ mới thấy thiên đường
Nằm bên em suốt canh trường đêm qua

Ất Mùi

Em về từ phía sông Tranh
Chiều ba mươi tết loanh quanh Tam Kỳ
Be be là thứ tiếng chi
Năm cùng tháng tận ngựa đi dê về

Thắc Mắc

Ăn ở hiền thì gặp lành
Chẳng màn chi tới công danh đời mình
Tôn sư trọng đạo mõ kinh
Cớ gì phiền muộn cứ rình rập ta

Dụ

Trà dư tửu hậu một mình
Ngẫm trong phép tắc giọt kinh luân thường
Thơ tục mà rất dễ thương
Biết đâu em đọc tìm đường theo ta

Lỗi Thời

Mở miệng thì phải nói ra
Làm sao giữ được cái ta lắm lời
Nói giỡn là nói khơi khơi
Nhưng mà biết được điểm rơi chỗ nào

Leo thấp có thời leo cao
Mang tiếng khoác lác sẽ nhào xuống sông
Chẳng qua những bọn đàn ông
Cái miệng mô Phật tâm lồng dối gian

May mà,chưa đến địa đàng
Mới chỉ nô bộc trần gian thôi mà
Nhưng mà biết cách bay xa
Sống chung đụng được tà ma nên giàu

Ta giờ thụt lùi phía sau
Còn ôm mỗi một cái nhau trong rừng

Khứu Giác Còn Lại

Hẹn chiều hẹn sáng hẹn mai
Thế mà mấy tháng năm dài trôi qua
Cái nhớ thì vẫn mút mùa
Cái miệng quen chuyện bán mua chợ trời

Thơ làm là một cuộc chơi
Để mà nói dóc vẽ vời cho vui
Mai này con mắt có đui
Mũi còn ngưỡi được cái mùi hương em

Mừng

Về đây gặp Dũng Tam Kỳ
Thơ văn lại thấy đôi khi lạ lùng
Nói năng rất mực lung tung
Nhưng xét tài cán vô cùng thăng hoa

Trong Vườn Chim Bao

Con người chẳng ai giống ai
Rượu bia trai gái tiền tài ăn chơi
Ví dầu rồi đến à ơi
Mẹ đâu có chỉ cái nơi nhọc nhằn

Đến khi ba cái lăng nhăng
Làm ta mất hết thăng bằng mới hay
Thì ra trong cuộc đời này
Gieo gió gặt bão trả vay khó lường

Thương em rất mực là thương
Nhưng chỉ chung đụng trong vườn chiêm bao

Quán Rượu Vô Danh

Lang thang một mình đi uống rượu
Ngồi quanh tôi là đám thanh niên
Tuổi trẻ bây giờ mau hủ hóa
Uống rượu pha cồn hơn bút nghiên

Rượu trắng pha cồn là rượu độc
Một mình đối ẳm rượu pha cồn
Mới uống một ly mà đỏ mặt
Tay ôm đồm một túi càn khôn

Cô cười rạng rỡ lên môi mắt
Giọng nói lờ lợ rất dễ thương
Hỏi ra mới biết dân Hà Nội
Vào Nam lâu rồi sống tha hương

Mới gặp sao gọi là tri kỷ
Kéo ghế ngồi bên đối ẩm tôi
Ly rượu trắng sang qua sớt lại
Ép bất khả từ cô nhấm môi

Ngồi xuống đứng lên đưa tiễn khách
Rốt cuộc quanh bàn chẳng còn ai
Uống vài ly xem như một xị
Tính tiền tôi trả đủ một chai

Cô khuấy nụ cười ngâm rượu bạc
Trắng muốt hồn tôi dạ xốn xang
Đời chẳng có gì hơn tửu sắc
Hơn cả thất tình đi lang thang

Hà Nội, Sài Gòn rồi Chợ Lớn
Gặp mặt nhau xúc động bồi hồi
Tôi lang thang cô là chủ quán
Rượu pha cồn độc ẩm mình tôi

Cảm Ơn Trời Đất

Nhiều khi vui quá không cưỡng được
Nắng mưa sương gió chẳng hề gì
Nương tử chiều xưa bên quán rượu
Ta khề khà chẳng biết nói năng chi

Em say khước ôm trăng Lý Bạch
Ta say chếnh choáng một chỗ nằm
Chút tình xưa cũng không giữ được
Bữa lên rừng em cũng bặt tăm

Rồi từ đó những bước chân lang bạt
Nghêu ngao hát khúc phương Nam hành
Càn khôn một túi thơ lấm bụi
Nguôi ngoai cũng hết một thời xanh

Biết bao lần mở môi thầm hỏi
Thèm về cố quận ngồi nhâm nhi
Cũng chẳng biết tại sao lỗi hẹn
Một nữa ai kia còn chút nhu mì

Ta tráng sĩ không cung không kiếm
Ngã ngựa chùn chân cũng bình thường
Đời rong rêu vai ba lô cơm bụi
Mộng vá trời lấp biển cũng vô phương

Ta làm thơ bao phen nói dóc
Nhưng với em thua thiệt đủ điều
Cảm ơn trời đất còn dung thứ
Mang hư danh mà vẽ chuyện mỹ miều

Nhớ Người

Con đường sẽ đặt tên em
Nơi ngồi là một quán kem Sài Gòn
Ơn đời ton hót ton hon
Ngó về muôn dặm núi non nhớ người

Chia Sẻ

Nghe đêm tàn xót xa ngày
Thân còn bám bụi hai tay xa nguồn
Bù đầu với những bán buôn
Nghiêng vai gánh hết nổi buồn cho em

Kinh Chiều

Ta đi giữa Sài Gòn sôi động
Dân di trú như hồn mây trơn
Ngộ cố tri tha hương đất khách
Nhặt sợi kinh chiều bay giữa hoàng hôn

Tay ôm đồm một túi càn khôn
Đi qua ngưỡng cửa đời hữu hạn
Đi qua ngày tung hê số phận
Giật mình nghe ” sắc sắc không không “

Câu thơ nào rớt buổi qua sông
Gởi vào hư vô lời sám hối
Những câu thơ miệt mài gở rối
Tháng ngày chợp mắt bóng phù vân

Lòng vòng quanh phố chốn nương thân
Thơ dắt ta rong chơi phiêu bạt
Trước hay sau cũng là bụi cát
Thì sá chi vặt vãnh dại khôn

Tráng sĩ hề không cung không kiếm
Con cái đề huề em và ta
Bữa đói lòng, mưa qua, vuốt mặt
Sợ lỗi lầm gặm nhấm thơ ca

Chim, Cá Và Ta

Đi quanh những bụi những bờ
Gặp con cá quẫy trong lờ muốn ra
Động lòng trong cõi tâm ta
Bèn vớt con cá về nhà nuôi chơi

Chim trong lồng thấy cá bơi
Nhào qua nhảy lại muốn xơi con mồi
Đành thả chim bay về trời
Trả cá về lại sống nơi ao hồ

Còn lại ta với hư vô
Neo đời bên những xô bồ áo cơm

Một Thoáng Đà Lạt

Ta náo nức ngày bay lên Đà Lạt
Đắm mình trong cái lạnh cao nguyên
Nghe đâu thời tiết giờ thay đổi
Phố núi mờ sương khói chung chiêng

Mới đó mà mấy mươi năm ròng rã
Ngồi Đồi cù – Than thở – Xuân hương
Xa tháng ngày rong chơi lang bạt
Xa thời tập tểnh với yêu đương

Đà Lạt sần sần đêm huyền hoặc
Đã quên ta thời đi bụi ngủ nhờ
Thời đến quán cà phê nghe em hát
Bay khắp thung đồi lũng núi hoang sơ

Thời của ngày xưa màu mè dấu ái
Giờ chẳng còn ai nhìn mặt nhận ra
Góc phố vĩa hè hững hờ khách lạ
Đà Lạt đón ta là một kẻ xa nhà

Thèm đến một mình bên thảm cỏ
Ngã lưng nằm ngó khói sương bay
Mặc gió thổi rối tung thương nhớ
Mặc cảnh chiều trầm mặc mắt cay

Mấy mươi năm đêm tàn cộc mộng
Phố ngàn thông vẫn xanh biếc một màu
Ta náo nức ngày bay lên Đà Lạt
Bỗng tim mình một chút nhói đau

Đà Lạt phố hoa thời mở cửa
Em lụa là son phấn tê mê
Ngàn hoa lung linh sắc màu Đà Lạt
Níu chân ta ở lại hay quay về

Khúc Chiều

Thấy em trong cốc bia hơi
Vui quá ta uống đã đời chẳng say
Chỉ thấy mặt mũi đỏ gay
Cái miệng đăng đắng chân tay rã rời

Thấy trong lả tả lá rơi
Mộng xanh xưa ngỡ qua thời tóc xanh

Râu Ria

Phật nói đời là vô thường
Nên ta thắp đuốc tìm đường mà đi
Thế mà đời vẫn như ri
Sáng mê thơ thẩn tối thì rượu bia

Dù thấy chỗ nọ chỗ kia
Nhưng không thấy hết râu ria đời thường

Thâm Cung

Một hôm trên đường ta lui tới
Em còn trẻ mãi với thời gian
Tóc bay tung tẩy theo nhịp bước
Ta khề khà cạn chén quan san

Chút ân tình nặng lòng cố xứ
Hồ như ai đó gọi thầm tên
Từ dạo ấy bước chân phiêu lãng
Cũng trườn trượt theo với thác ghềnh

Đời rộng sá gì cơm với áo
Mà quên đi hết một thời xanh
Mấy thuở đời thơ ta thấm bụi
Ngậm ngùi tương tác khúc đành hanh

Con đường xưa lắng men rượu nhạt
Bỏ lại sau lưng tuổi đá buồn
Ta đi ngày rớt bên chiều vắng
Nghe tiếng em xưa cũng cuống cuồng

Ví thử trần gian là giọt đắng
Bắt đầu mới thấy mộng vô cùng
Ngẫm ra ta chẳng là vua chúa
Sao thấy mình như ở thâm cung

Man Khai

Hỏi thăm thế kỷ trăm năm
Đường về quan ải xa xăm có còn
Biển rừng thăm thẳm núi non
Lao xao Chợ Lớn, Sài Gòn như mơ

Nhân tình thế thái bây giờ
Gặp nhau như thể sau tờ man khai

Tình Xưa Nghĩa Cũ

Quê xưa giờ chẳng còn gì
Hồn bao năm cũ cũng đi mất rồi
Loay hoay tìm một chỗ ngồi
Tôi nhìn thấy bóng hình tôi chạnh lòng

Tay ôm không hết mênh mông
Chân phiêu lãng bước tay bồng triền miên
Lang thang đi kiếm bạn hiền
Chén thù chén tạc đuổi phiền muộn bay

Hình như nghe mắt cay cay
Tình xưa nghĩa cũ lay bay trong đầu

Mấy Mươi Năm
Gặp Lại Bạn

Kiếp phù sinh đời người vô định
Bất chợt ở đâu đi tới lù lù
Thì ra bạn cũng là người thành đạt
Đến thăm ta tên du thủ lu bù

Thôi thì gặp nhau mời ra quán
Uống với ta bia bọt vài chai
Ở đây không có em son phấn
Bia với dĩa mồi nhấm nháp lai rai

Nay bạn về đây ta còn đi nữa
Mà bóng thời gian đã cạn dần
Giấc mơ bao năm chưa đạt được
Nửa đời rồi còn điệu bộ tấm thân

Ta nhìn bạn, bạn nhìn ta văng tục
Hồi xưa cùng chung trọ học vô ra
Bạn ở Sài Gòn tìm đường qua Mỹ
Ta lang bang rồi trở lại quê nhà

Cụng ly đi bạn về từ nước Mỹ
Jose giờ nắng nóng bõng môi
Bạn ra đi mấy mươi năm biền biệt
Tha hồ ngồi kể chuyện nổi trôi

Giờ còn làm thơ không ? Bạn hỏi
Chẳng làm thơ thì biết làm chi
Ta du thủ nên thơ toàn quỷ quái
Có lúc hùng hồn, có lúc lâm li

Lúc lỡ vận làm nghề buôn bán
Cũng bon chen chài mối sống qua ngày
Ta với bạn thân này thân cát bụi
Thì sá chi bia bọt một cơn say

Tự Nhiên

Dù ở bất cứ nơi đâu
Bầu đoàn thê tử lâu lâu về nhà
Sài Gòn – Tam Kỳ vô ra
Mỗi năm một chuyến rất là tự nhiên

Đêm Tiên Điền

Lục bát hơn ba ngàn câu
Nguyễn xưa cạn chén bể dâu sông Tiền
Đêm mơ trốn về Tiên Điền
Nghe tiếng Kiều gọi sông Tiền Đường ơi !

Giang Hồ

Như con lật đật vậy sao
Hai thằng thân thiết còn tao với mày
Chân yếu còn có hai tay
Mai kia chống gậy ngó mây giang hồ

Ma Lực

Ở quê lên tận Sài Gòn
Thân em con gái sao còn vẹn nguyên
Tu thân dưỡng tính chùa chiền
Tiền là ma lực thôi miên con người

Vũ Khắc Tĩnh

1 2 3 9