Hoàng Ánh Nguyệt

Hoàng Ánh Nguyệt
Đời Màu Hồng

Niềm vui có bạn tâm giao
Xoá bao ẩn ức gió gào qua song
Cuộc đời như mớ bòng bong
Thoáng buồn giây phút chìm trong luân hồi

Ta về đổ nắng ra phơi
Đổ trăng ra đếm đổ lời ra đong
Đổ bao vướng vít trong lòng
Giúp ta lấp được khoảng không bên trời

Giá ta là áng mây trôi
Dần tan trong gió mà thôi muộn phiền
Chẳng mong lắm của nhiều tiền
Sắc không, không sắc, hồn nhiên vui cười

Cho đi phiền muộn xa trôi
Cho tình thơ sáng khắp trời tương lai
Vui lên ta cứ mơ say
Tri âm trao chuốt cùng ai đôi dòng

Xô niềm Vô, Hữu long đong
Đời xinh như mộng thỏa lòng ước mơ
Khách thi xin chớ hững hờ
Tiếng thơ hòa nhịp đón chờ Tao Nhân!.

Cảm Thông

Trăm năm ủ mộng bên trời
Công hầu rũ áo… chợ đời lỡ duyên
Tội tù… đành lỗi ước nguyền
Ngàn năm mãi nguyện giữ nguyên lời thề

Dù xa mấy dặm sơn khê
Tấm lòng ưu ái hằng về cố hương
Hồn mơ giây phút tương phùng
Bên em… trang trải tận cùng… đam mê

Nửa vòng trái đất… xa quê
Nhìn trăng viễn xứ…. bốn bề quanh hiu
Niềm riêng gửi mộng vào chiều
Vần thơ định mệnh cuốn theo biển đời

Những trang sầu hận của người
Khiến cho… một kẻ bùi ngùi cảm thông
Xin người thoải mái… phiêu bồng
Cho thơ nhẹ cánh chín tầng trời cao…

Tình Xuân

Mới đó mà nay xuân đã sang
Nhớ xuân quê cũ nhớ mai vàng
Xuân về vạn cánh hoa đua nở
Tiễn tiết đông tàn dạ ngỗn ngang

Xuân nữa lại về trong mắt em
Lung linh màu nắng toả bên thềm
Tình xuân đất khách càng tha thiết
Trao gởi lời thương những nỗi niềm!

Rộn rã xuân về nhớ cố hương
Lòng nghe canh cánh nỗi đau thương
Biên Hòa quê cũ còn mơ mãi
Khát vọng sum vầy khách viễn phương

Cái Trọng Ty

Cái Trọng Ty
Khoái Châu

Ô lý sầu giăng ngàn dặm thẳm
Khoái châu bản địa bẻ kiếm treo
Oán ca nguyệt tận phường vô cảm
Nào hay thu tứ động bờ tây

Chuốt thêm túy lúy sầu viễn xứ
Đêm đêm ngóng vọng bến sao mờ
Thời lai mấy độ đời du thủ
Mắt bão đèn khuya vạn lý sầu

Phượng đã bao mùa trên bền cũ
Xanh xanh sóng nước vỗ bờ xa
Tráng sĩ ra đi không trở lại
Mồ hoa cỏ dại mấy thu phai

Vọng cố hương hề tiên tổ cội nguồn
Bến cộ đò xưa một chấm xanh
Đã mấy mươi mùa trăng cổ lục
vọng tiếng vô thanh tử cấm thành

Ta chôn tâm sự vô phương giãi
Có loài lau cỏ bạc mái đầu
Đêm kinh động sao mù mịt nháy
Tỉnh dậy mơ hồ nghe vó câu

Năm tháng chìm theo đạn réo tên bay
Hỡi những hồn ma ôm súng ngũ
Chân ôm mông mị về biên tái
Lính trận chết rồi ai khóc cho ngươi

Cũng đành thôi người bạn chiến chinh
Kiếp dã tràng xe cát phù vinh
Nhớ thương người bão dông trần thế
Đành thôi cuộc diện khuất sông hồ

Chiều Xanh Quan Ải

những ngọn cỏ chiều mưa
đầm đìa hạt lệ
tôi về qua nhà em
ước gì gặp lại
mây trùng dương từ mấy tâng cao
rơi xuống trần gian bơ vơ
đêm nguyệt táng thuyền trôi
mắt biển dài
chiều hiu quạnh lam mờ xám mái
tiếng đồng không lạnh lẽo âm cung
ngày đi nhà cũ lưa thưa gió
vệt nắng chiều ôm ấp mái hiên xưa

em yêu dấu
một thời động loạn
sông núi kinh hoàng
mang thương tích lầm than
chiếc bóng buồn lê tiếng xích thô
một ngày như mọi ngày trong tủi nhục
hạnh phúc phân thây nỗi ước mơ
dấu nhọc nhằn in sâu mắt biếc
bến tây phù bờ bãi khó đi

em xưa hồng nhạn bay về biển
theo mây thái cổ mờ trong tranh
chiều quanh quan ải chìm sương quạnh
đốm lửa tình ta lờ lững khói mây

Cái Trọng Ty

Luân Hoán

Luân Hoán
Nụ Thơ Hàng Xóm

khi đứng rửa chén một mình
thỉnh thoảng vô cớ thình lình liếc nghiêng
bộ bàn ghế đặt ngoài hiên
thoáng như có bóng ai yên vị ngồi

định thần nghiêng cổ trông vời
chỉ là cơn gió khẻ rời ghế không
giật mình tưởng tượng viễn vông
một con ma nữ môi hồng lén thăm

hai tay đầy bột xà bong
làm tuột đôi đũa theo dòng nước trong
nhích người xê dịch khoảnh hông
nhìn ra cửa kính mênh mông không người

cô hàng xóm có chồng rồi
tóc vàng môi rộng đẹp đôi Hoa Kỳ
lắm lần không biết nghĩ chi
cô làm tôi nhột chỉ vì nhìn qua

ánh mắt lạ lạ rất là
không đâu, rất khó thể mà, vẩn vơ
hẳn bị bắt gặp bất ngờ
đang rửa chén, dị, khù khờ thế kia

tôi lành như tấm mộ bia
của cô vợ đảm thật xua lâu rồi
làm sao tránh khỏi mơ chơi
chân dài bụng hở em ngồi hướng qua

một mình lúc thúc ở nhà
rửa xong đống chén lần ra hiên ngồi
con chim nuôi hót không tồi
mang ra luôn, thế một người bạn thân

vợ vắng, cô láng giềng gần
thiếu bàn cờ tướng bần thần cách chi
chờ dài cổ chưa thấy gì
ngoài quân với lính ông thi sĩ cùn

thơ cùng nước lọc uống suông

Hương Bài Thơ Cũ

bốn mốt năm xa chợt sáng nay
hương bài thơ cũ gợn chân mày
tiếng vàng thỏ thẻ reo hồn nhạc
đánh thức tình vui mở cánh bay

đứng lại trên hè ngã tư xưa
một thời chờ đợi run tay đưa
đôi câu viết vội trên bao thuốc
tim đập liên hồi quên gởi thưa

kịp nhớ bàn tay rất thẹn thùng
giấu ngay vào vạt áo rung rung
quay mình thả bước nhanh theo bạn
nhưng gót chừng như vướng nhớ nhung

em khuất dần trong đám bạn bè
ta vào trở lại quán cà phê
trái tim rộn rã chưa kịp tĩnh
và suốt cả ngày như vẫn mê

ta vậy, còn em… đến bây giờ
mới hay em vẫn đợi chờ thơ
những hôm qua ngã tư quen ấy
ta vắng, em buồn lo ngẩn ngơ

tội nghiệp cho em đã hết lòng
vì thơ, đã vội vã qua sông
mang theo tất cả bao câu chữ
truy niệm cuộc tình chẳng trổ bông

cảm tạ tình em nuôi dưỡng thơ
ươm thơm thương nhớ đến bây giờ
cũng may thơ chính là em đấy
ta với em là… cũng chính thơ

vốn hiểu lòng nhau đã quá lâu
từ hôm mắt chạm mắt lần đầu
bài thơ không chở nguồn ngôn ngữ
chỉ đựng tình yêu trao gởi nhau

vẫn nhớ đêm trong cánh võng xanh
đêm trên nền phản ván yên lành
mắt tình quấn quít tay không chạm
hạnh phúc reo theo gió lướt mành

sẽ nhắc nhiều hơn kể nhiều hơn
cửa đông mãi ngát những hương thơm
hương bài thơ cũ chưa hề cũ
vẫn mới tinh khôi ở trong lòng

Đưa Đò

đưa người tha thiết đưa người
lạ quen qua lại ngược xuôi mỗi ngày
dòng nước chảy ngày hôm nay
khác hôm qua khác mai này ra sao ?

miên man gió thở rì rào
vi vu gió hát nắng đào mưa bay
đôi bờ chim hót trong cây
bình yên hoa nở lá dày cành xanh

người chậm chạp kẻ tinh nhanh
cùng chung vẻ đẹp hiền lành bao dung
con đò từ tốn khiêm cung
tay dầm khua nước vui chung với lòng

hỡi ơi ai đã qua sông
có nghe tiếng sóng của sông của người ?
tưởng chừng như chẳng buồn vui
man man tâm sự ngậm ngùi xót thân

vu vơ có được mấy lần
ngắt hoa súng đặt nơi chân đứng người !
chỗ ngồi gió thổi mất hơi
vẫn như đọng lại nụ cười vu vơ

bờ qua rồi lại qua bờ
trên trời dưới nước mây hờ hững trông
người đưa đò phút ngồi không
hình như biết nhớ biết mong điều gì

hồn nhiên trời đất thầm thì
con đò chiếc lá tre đi lừng khừng
sóng trong nước còn nhớ nhung
sóng trong lòng có nhịp rung theo đời ?

trôi sao mau hết kiếp người
hỡi ơi !

Luân Hoán

Lãm Thúy

Lãm Thúy
Còn Nói Gì Quên Nhớ

Đời sống không tiếng than
Ta ngậm niềm ly biệt
Lặng lẽ qua tháng năm
Cũng không cần ai biết

Còn hỏi ta làm chi
“Đâu những điều bất toại?”
Nào ta đạt được gì
Suốt cuộc đời trôi nổi !

Ba mươi năm rồi sao?
Tưởng như vừa mấy bữa
Gió thổi buốt lòng sầu
Ta qua sông lần đó

Một lần là trăm năm
Còn nói gì quên, nhớ
Sông dài, cá mù tăm
Chim bay trời giông tố

Tại người nhắc chuyện xưa
Nên lòng ta lạ quá
Qua hết thời mộng mơ
Sao tim còn rộn rã…?

Cảm Xúc

Cứ như là thuở ban đầu
Khi ta đứng nép vào nhau. Chụp hình
Chạm nhau rất khẻ. Vô tình
Mà trong tim – máu vỡ thành tiếng ngân

Nghe chừng nắng rọi đầy sân
Như xưa dại dột. Có lần… Ồ ! Không…
Lâu rồi , ai nhớ mà mong
Ai thương mà đợi. Ai trông mà về !

Lạnh lùng như thuở xưa đi
Không dưng gặp lại . Chẳng vì ước mơ
Thực ra . Chỉ tại tình cờ
Nói chi như thể tình xưa vẫn nồng

Nhớ làm chi một bờ sông
Buổi đưa tiển ấy. Nhắc. Lòng còn đau
Không thương sao nhỏ lệ sầu
Không thương sao để vì nhau mỏi mòn?

Có người tóc bạc. lòng son
Đã thành quá vãng vẫn còn bâng khuâng
Nói gì như mấy mươi năm
Nỗi rung động ấy vẫn thầm trong ta

Nhắc gì tóc chải năm xưa
Soi gương chung bóng còn chưa quên người
Nhớ chi cho tội một đời
Đã muôn trùng vậy, ngậm ngùi mà chi !

Nói gì trong mắt ngày đi ?
Tay còn chưa chạm, đường thì xa xôi
Người về nhớ nữa hay thôi
Ta sang bên ấy, một trời hoài mong

Biết Sợ Thời Gian

Ôi! Ta từ quá tuổi năm mươi
Biết sợ thời gian, sợ bóng đời
Năm tháng lăn dài con dốc thẳm
Ngậm ngùi nghe đá nát, vàng phai…

Đâu có nhiều chi mộng tuổi xanh
Mà bao chìm nổi, thác qua ghềnh
Trăm năm ngó lại. Đời như khói
Một nhánh sông buồn. Ta quẩn quanh…

Một nhánh sông buồn. Ta nổi trôi
Hoa rơi, bèo giạt xót xa đời
Nở trong ly loạn thời binh lửa
Tan tác xuôi theo ngọn sóng giồi !

Hạnh ngộ, từ ly khóc đã nhiều
Sinh ly, tử biệt cuốn mình theo…
Trăm năm mà sống như nghìn tuổi
Một mảnh hồn tan nát, hắt hiu !

Ngó lại đời ta, lệ đã đầy
Nghe niềm tàn tạ rớt quanh đây…
Chiều thu, đứng lặng bên triền dốc
Xót lá thu vàng tơi tả bay !

Bày Tỏ

Có người, dù xa , vẫn nhớ người
Một thời nuôi mộng, thả mây trôi
Nằm nghe sóng vỗ con thuyền cạn
Đợi ánh đèn khuya hắt bóng soi

Ta cứ chờ như thế mỗi đêm
Nghe từng rộn rã bước chân quen
Bàn tay mầu nhiệm đêm thương tích
Người tái sinh đời ta. Chẳng quên !

Những ngày tháng đó dù tai ương
Mà còn mơ ước để sinh tồn
Người mang đến bao niềm hy vọng
Thả chiếc phao vào giữa đại dương.

Thuở ấy, lòng ta như gương soi
Ngưỡng vọng ai : Thiên sứ tư trời
Ôi ! Có lời thơ nào đủ đẹp
Để ta thành kính tạ ơn người !

Rồi đời phân ly , người xa người
Chân trời góc bễ đã chia phôi
Mấy mươi năm giữa dòng lưu lạc
Theo dấu tìm nhau cũng cạn đời !

Người tái sinh đời ta một lần
Xua ngày băng giá , trãi hoa xuân
Khi ta còn sống , còn hơi thở
Sẽ chẳng bao giờ quên nghĩa ân !

Sự sống người cho ta, đã trôi
Đứa con yêu dấu đã qua đời
Mà sao kỷ niệm còn lưu mãi
Năm tháng phai tàn. Đâu dễ nguôi !

Có người vẫn nhớ, dẫu muôn trùng
Vốn chẳng hẹn hò sao thủy chung?
Còn nghe vạt sóng bao năm cũ
Bâng khuâng , dào dạt vỗ bên lòng …

Ta bữa về thăm , có ghé qua
Bên bờ quê cũ hết còn hoa
Sao dời vật đổi từ lâu lắm
Chẳng dễ chi tìm ra dấu xưa

Người cũ không còn , cảnh chẳng quen
Khơi lòng ta một nén hương nguyền
Ngậm ngùi đứng lại, nghe tàn tạ
Nuốt thầm, sao lệ cứ dâng lên!

Lãm Thúy

Lê Ký Thương

Lê Ký Thương
Bánh Căn Đường Phố Sài Gòn

Một chiều Sài Gòn lất phất mưa, chạy xe trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tình cờ bắt gặp tấm biển nhỏ vỏn vẹn dòng chữ :”Bánh căn Phan Rang” treo trước căn nhà mặt tiền, lòng bỗng dưng nhớ đến hình ảnh bà Tự mỗi sáng ngồi đổ bánh căn ở cái thị xã nhỏ nhất miền Trung và cũng hiền hoà, bình yên nhất miền Trung trước năm 1975. Bánh căn vốn là món ăn dân dã, chỉ có ở miền Trung, người miền Bắc và miền Nam khi nghe nói đến, họ không thể hình dung ra là món gì.

Hồi nhỏ ở quê, mỗi năm đến mùa mưa lụt hay cuối mùa lúa, nhiều nhà trong xóm giàu thì đổ bánh xèo, nghèo thì đổ bánh căn. Trời lạnh, cả nhà ngồi quây quần bên lò bánh toả hơi nóng, chờ mẹ hay chị cạy bánh chín từ khuôn bỏ vô chén, phết một muỗng nhỏ hành xào với mỡ heo, vừa nóng vừa dòn, đậm đà với nước chấm, cắn một miếng nghe rôm rốp trong miệng, ngon thiệt là ngon! Thổi thổi ăn ăn, quên cả mưa giông hay bão tố. Không hiểu tại sao nó hấp dẫn mình đến thế! Thật ra, nó chỉ là chút bột gạo loãng, nếu sang thì pha thêm lòng trứng gà hay vịt, được nướng chín trong khuôn đất, nhưng ngon hay dở chính là nhờ tay người… pha chế nước chấm. Ăn mỡ với nước chấm nhiều khát nước, chạy ra vò nước giếng tu một gáo rồi vô ăn tiếp. Ăn đến lúc “cành hông” mới thôi.

Lớn lên, tôi về Phan Rang làm việc một thời gian. Buổi sáng đầu tiên, người bạn thân sinh trưởng ở đây mời đi ăn sáng. Anh nói sẽ đãi tôi món “đặc sản” nổi tiếng quê anh. Từ đường phố chính, cũng là đoạn hơn cây số của quốc lộ 1A, rẻ sang con đường nhỏ yên tĩnh, hai bên rợp bóng cây me Tây cổ thụ, đi trăm bước là đến nơi bán món “đặc sản” của anh. Đó là hàng bánh căn trên lề đườngï, đối diện với rạp chiếu bóng Việt Tiến, rất đông người chen nhau ngồi ăn, ngồi chờ trên những chiếc đòn gỗ nhẵn thín. Không hẳn là những người lao động tay chân mà có cả những cô môi son má hồng, những anh sơ-mi trắng đóng thùng và những cô cậu học sinh lớn nhỏ, khác xa hình ảnh những hàng bánh căn nép mình ở góc chợ mà tôi thường gặp suốt dải miền Trung. Một bà cụ khoảng bảy mươi, ngồi giữa hai lò bánh căn rực than hồng, bên cạnh là một xoong bột gạo thật lớn và những đồ đựng nhiều loại nước chấm khác nhau. Hai tay thoăn thoắt, bà vừa múc bột đổ bánh, vừa giở nắp khuôn nóng cạy bánh chín cho khách, động tác thuần thục. Bà đổ bột từ khuôn này sang khuôn khác một cách nhuần nhuyễn, không giọt nào rơi vãi ra ngoài. Thật điệu nghệ như người bán dầu phụng trong truyện cổ tích! Phụ giúp bà lo cho khách là người con gái tuổi cũng đã năm mươi. Tôi chú ý đến chiếc vá nhôm múc bột của bà, trên miệng khuyết một chỗ ở nơi bột chảy vào khuôn, thật đúng là “nước chảy đá mòn”. Cái vá khuyết ấy chính là dấu ấn không thể xoá được trong tâm trí của nhiều thế hệ sinh trưởng và làm việc trong lòng thị xã hết sức dễ thương này. Và cũng chính nó đã làm nên thương hiệu “Bánh căn bà Tự” nổi tiếng. Bánh căn bà Tự có nhiều loại nước chấm, ngoài mắm nêm, mắm nước trộn với xoài sống băm nhỏ, đặc biệt nhất là nước cá cơm kho (mà cá cơm cũng là đặc sản của vùng biển Ninh Thuận, hầu như có quanh năm)…

Hàng bánh căn bà Tự còn được khách đặt tên là “Đài phát thanh thị xã”, vì nơi này là “trung tâm thu phát và bình luận” mọi tin tức từ tin “xe cán chó” đến “chó cán xe”, từ chuyện gia đình ông A bà X trong cái thị xã chỉ cần “thở nhẹ trong nhà đã ra ngoài ngõ”õ đến chuyện quốc gia đại sự… Mẹ con bà Tự thay nhau làm “phát thanh viên”. Vì vậy có người ghiền đến đây không chỉ để ăn mà còn để nghe tin nóng hổi, giống như người Sài Gòn ghiền đọc báo sáng sớm. Đôi khi khách hàng trung thành của bà Tự cũng hụt hẩng vì có hôm đến mà không thấy “đài” cũng chẳng thấy “phát thanh viên”. Lúc đó, không nói ra ai cũng biết rằng có “VIP lớn” về. “VIP lớn” ở đây không ai khác hơn là tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu quê làng Tri Thuỷ, cách thị xã khoảng mười cây số, thời nhỏ cũng từng ăn bánh căn bà Tự,ï nên mỗi lần về thăm tỉnh nhà đều cho xe rước mẹ con bà và cả đồ nghề vào dinh Tỉnh trưởng, nơi ông trú ngụ, đổ bánh cho ông điểm tâm.

Có người không phải dân Phan Rang chính gốc, chỉ sống ở đó một thời gian, nhưng khi đi xa vẫn nhớ bánh căn bà Tự. Cô bạn Việt kiều gốc Bắc, thuở nhỏ học ở Phan Rang, xa nơi chốn này gần nửa thế kỷ, khi về nước lần đầu, ghé lại đó chỉ cốt mua cho được lò bánh căn của người Chăm Bầu Trúc mang về tận Mỹ. Khi “hàng” về đến nhà an toàn, cô vui mừng điện thoại báo tin nóng cho bạn bè sống cùng tiểu bang biết “thành tích” của mình và mời họ họp mặt để khai trương lò bánh căn mang hồn đất quê nhà. Có người không ngại đường xa, lái xe mất năm tiếng đồng hồ chỉ để được cùng bạn bè ngồi quanh lò bánh căn đốt bằng lửa gas thay cho than củi vừa ăn vừa ôn lại những kỷ niệm ngày xưa.

Click here to Read More

Hồn Sách Cũ

Tôi chẳng nhớ cái máu mê sách cũ đã “lậm” vào người mình lúc nào… Hễ có tiền trong túi là phần xác dắt phần hồn tôi đến các cửa hàng sách cũ rẻ tiền trong thành phố. Ở đó, tôi có thể tìm mua được những quyển sách năm xửa năm xưa mà mình cần hay mình thích, với giá hợp túi tiền khiêm tốn của mình. Những quyển sách này hiếm khi được đứng đàng hoàng trên kệ. Chúng thường nằm lăn lóc dưới nền nhà, bụi bám đầy “người”, có khi thân hình còn nguyên vẹn, có khi rách một vài trang, có khi áo quần (bìa) nửa còn nửa mất, hoặc bị lột sạch, mùi ẩm mốc xông lên khiến mình có cảm giác không còn mũi để thở. Chúng giống như những đứa con rơi. Mà chúng bị bỏ rơi thật! Vì chủ nhân của chúng không cần chúng nữa, để trong nhà cũng vô tích sự, lại thêm chật nhà, chi bằng bán cho mấy bà ve chai được đồng nào hay đồng đó. Rồi mấy bà ve chai lại đem bán ký cùng giấy, báo loại cho các cửa hàng sách cũ… Nhờ thế, những người mê sách cũ như tôi mới có duyên may gặp được… “người tình trong mộng”.

Click here to Read More

Ân Tình Và Nước Mắt
Nhà thơ Chu Trầm Nguyên Minh

1.
Tháng 10 năm 1970, khi nhà thơ Tô Đình Sự vào Sài Gòn nhận Sự vụ lệnh biệt phái về Ty Thuế vụ Cam Ranh, thì bạn bè ở Phan Rang hết sức bất ngờ và ngỡ ngàng hay tin anh chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn ô-tô!Mới cách đó hai hôm, anh còn kéo tôi đi nhậu với “băng” Thuế vụ, dẫu anh biết rằng tôi vẫn là… cá lòng tong chuyên phá mồi. Tô Đình Sự khoảng một năm trước khi mất, tính tình anh thay đổi hẳn.Từ một người ít nói, sống nhiều với nội tâm, với những mất mát, những khổ đau trong kiếp người, dù đang thanh xuân, anh trở thành một người “ồn ào”, lúc nào cũng “oang oang cái mồm”, ưa “cà khịa” với bạn bè, rất dễ làm mích lòng nhau. Trường hợp cụ thể nhất là giữa Tô Đình Sự với Chu Trầm Nguyên Minh.

Click here to Read More
1 2 3 57