Bài Mới Đăng

Nguyễn Đức Nhơn
Gởi Người Phương Xa

Cho dù không gian ảo
Cũng đủ để yêu đời
Cũng thường đêm mơ thấy
Một bóng người xa xôi

Sài Gòn xa vạn dặm
Nhịp cầu nào đủ dài
Nối hai bờ nhung nhớ
Nối hai bờ đông tây

Đêm thường đêm mơ mộng
Vơ vẫn ngoài chân mây
Những vần thơ êm ả
Rót vào lòng đêm say

Nắng giữa chiều Dallas
Sao lạnh buốt tâm hồn
Cho xin một đóm lửa
Về sưởi ấm hoàng hôn

Bài thơ không đoạn kết
Gởi cho người xa xôi
Như đôi vầng nhật nguyệt
Như những vầng mây trôi…

Nguyễn Đức Nhơn

***

Lê Vũ Trường Giang
Hồng Hoang Biển

Tôi rất thương Mẹ mỗi lần nhìn thấy khối cơ thể ấy vỡ vụn ra, nát tan từng mảnh trong ngôi miếu cũ. Mẹ nằm đó, trong cỗ quan tài bằng gương nhiễu điều phủ đỏ. Thân thể Mẹ màu xanh biển sớm, trong như màu mắt ngư phủ ngày cá đầy khoang. Phía bên trái quan tài, xiêm y màu phỉ thúy của Mẹ ánh lên thứ dung nghi trầm kha của đại dương sâu thẳm. Dân làng Việt Hải tôn thờ Mẹ, một niềm tin khả hữu của những đứa con suốt đời dầm mình trong gió mặn và biển chát. Mỗi lần cha tôi đi biển dài ngày thường đến miếu viếng Mẹ với một mâm lễ chuối, cau trầu, rượu và những thỏi trầm. Tôi thường xách giỏ đồ cúng chạy theo cha đi lễ, tất tả và hồn nhiên như một cơn sóng con.
“Nghề đi biển là vậy, phải có người chở che sóng gió. Nếu không cũng sớm làm mồi cho cá thôi”, cha nói.
“Thế Mẹ là ai hở cha?”
“Một nữ thần cưu mang những ngư phủ như chúng ta, những đứa con của Mẹ.”
Cha bắt đầu kể về Mẹ khi chúng tôi lạo xạo bước đi trên cát chiều khô gió. Giọng cha trầm xuống kính cẩn, một thứ giọng đầy hương muối, mùi liêu trai tôi chưa từng nghe bao giờ.
“Dân tộc ta gọi mẹ Âu Cơ là quốc tổ mẫu, thì Mẹ Thái Dương là Mẹ nuôi của làng ta đấy.”

Click here to Read More

***

Nguyễn Đức Nhơn
Giấc Mộng Cuối Đời

Ta sẽ dựng một chòi tranh nho nhỏ
Bên cạnh dòng suối nước chảy êm êm
Ta sẽ rủ một vài thằng bợm nhậu
Đến cùng ta bày tiệc rượu thâu đêm

Ta sẽ bẫy vài con chồn, con thỏ
Đợi cuối tuần ướp sả ớt xào lăn
Đám bạn bè còn đứa nào chết dở
Hãy về đây cùng uống rượu ngắm trăng

Ta sẽ vào tận rừng sâu, núi thẳm
Bới rễ cây mà tìm thuốc trường sinh
Khi buồn chán thì giả làm hảo hớn
Đốn cây rừng mà dựng trại Lương Sơn

Ta sẽ tạc tượng em trên đỉnh núi
Mượn mây trời dệt nốt mảnh xiêm y
Và sẽ mượn sao trời đêm lấp lánh
Kết thành xâu chuỗi ngọc lưu ly

Cho em lộng lẫy trên ngôi Hoàng Hậu
Và ta sẽ là một Quân Vương
Sẽ diễn nốt vở tuồng thiên cổ
Rồi trở về cùng cát bụi, mù sương!

Nguyễn Đức Nhơn

***

Nguyễn Xuân Thiệp

Đường Bạch Dương
Chiều Không Quán Trọ

Mưa tháng bảy. Mưa của đất trời. Mưa trên cõi người. Những tiếng mưa buồn dội xuống mái âm dương, nơi những hồn chết trở về thăm nơi chốn cũ. Và thơ chiêu hồn cũng thấm cái lạnh nghìn trùng của những giọt mưa rơi. Mà nói tới thơ chiêu hồn là phải nói tới trường thi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du.

Năm 1979, ở Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ, trại tù thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, trong không khí của Chiêu Hồn Ca tôi viết Thảo Nguyên, trong có mấy câu:
cha đã đi qua vùng thảo nguyên
những năm ấy. trời làm đói khổ
kẻ sống người chết đều trơ xương
lại thêm khắp bốn bề giặc giã
muôn oan hồn dấp dúi lang thang
nương trăng. nơi đầu sông cuối bến
ngày gầy xơ. lất phất mưa phùn
đường bạch dương. chiều không quán trọ
hành nhân. hành nhân. đêm thu phân
Tất nhiên, người đọc cũng thấy tôi đã mượn mấy chữ “đường bạch dương” của Nguyễn Du trong CHCTLCS. Có thể nói, Chiêu Hồn Ca là tuyệt tác của Tố Như, bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh. Nó còn gần với dân tộc hơn, và mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo. Đời sau, các thi sĩ khi viết tả không khí bi thương ảm đạm của mùa thu, nơi âm dương chập choạng, kẻ chết và người sống chừng như đã hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình từng mang theo xuống lòng đất -trong bầu khí thê lương mưa thu lạnh buốt ấy, ít ai không nghĩ tới thơ chiêu hồn của Nguyễn Du.
Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng bảy mưa thu, nên chăng chúng ta cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong CHCTLCS. Đọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua.
Để mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du viết: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng… Đường bạch dương bóng chiều man mác / Ngọn đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm… Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra -cõi trường dạ tối tăm trời đất…- những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du -như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm- lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh -nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao -chí những lăm cất gánh non sông…- nhưng gặp “thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở” để rồi “máu tươi lai láng xương khô rụng rời… ” Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ -Khi thất thế tên rơi đạn lạc /Bãi sa trường thịt nát máu rơi … Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua – Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng “Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!..” Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: “Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh …” Đọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển -Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xế gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê- chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ… Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy.
Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Đông… Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên..

Nguyễn Xuân Thiệp

***

Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Thật Và Ảo

Tôi lạc vào khung trời ảo, khi mà tôi muốn thoát ra khỏi những hệ lụy của đời thường. Nơi mà tâm hồn tôi có thể xoải cánh bay vào một cõi không phải của mình nhưng có mình. Tôi gặp một bài thơ thật hay, chính xác là gặp một trang blog của một tác giả với những bài viết mà tôi đọc với một cảm xúc tràn dâng. Với niềm đa cảm, tôi thấy như mình thấu hiểu tâm trạng của người viết nên những dòng thơ ấy.Con mưa nào không phải của tôi mà buồn da diết thấm vào tôi.Khoảng trời nào đã mất của ai mà khiến tâm hồn tôi chùng xuống. Làm sống lại trong tôi những ảnh hình dịu dàng xa khuất, một bài thơ ngắn cô động như một khúc bi ai của kiếp người đang hiển hiện trước mắt tôi như một tiếng than, như những thanh âm vọng mãi trong lòng người với bao niềm nuối tiếc.

Click here to Read More

***

Yên Sơn
Trăng Tôi Và Biển

Về đây mình chỉ gặp mình
Đi ven bờ cát tìm trăng năm nào

Từ miền đông về ngang qua phố biển
Muốn tìm người, sao ngần ngại bước chân
Bao dấu yêu bỗng nhạt nhoà câm nín
Chỉ riêng mình từng bước nhỏ bâng khuâng

Chiều xuống thấp, lang thang trên bờ cát
Biển vô tâm, sóng gõ nhịp luân hồi
Vẳng bên tai như có lời ai hát
Sắt se buồn trong kỷ niệm đầy vơi

Vẫn ánh trăng, màu trăng vàng năm cũ
Chỉ thiếu người cùng chung bước như xưa
Nhịp sóng vỗ, cung điệu buồn luân vũ
Quẩn quanh đây phảng phất chút hương thừa

Bờ cát vắng, nhiều mảnh sò vụn vỡ
Ốc mượn hồn sục tìm chốn dung thân
Tim lạc nhịp, cung điệu tình dang dở
Kiếm đâu ra được một chút ân cần

Ngồi bó gối nghe thời gian vụn vỡ
Nhịp tim đau thoi thóp gọi tên người
Trên lưng đồi, liễu buồn im không nói
Ánh điện vàng mờ nhạt dưới trăng soi

Hòn đá cuội hình trái tim ai tặng
Vẫn còn đây, đã mòn nhẵn trong tay
Trong lồng ngực một trái tim trĩu nặng
Gã si tình gục mặt hát đêm say

Yên Sơn

***

Hạc Thành Hoa
Nói Với Mình Trong Khi Trú Mưa

1.
bên đường anh đứng trú mưa
hàng bông giấy thưa che sao khỏi ướt
mưa từ những sợi tóc còn đenlàm đôi mắt xót
mưa từ những sợi tóc vừa trắng làm đôi mắt cay
những sợi tóc dính vào mặt
như nét vân trên đá
một trận mưa hai trận mưa ba trận mưa…
mọc lên những chiếc nấm sặc sỡ
anh chợt nghĩ đến em
không phải dưới chiếc nấm nhiều màu
mà lạnh run dưới chiếc dù ngoài chợ
chiếc dù bằng bàn tay
chống đỡ cả trời mưa gió

2.
bên đường anh đứng trú mưa
giá mà có em
thì cả Saigon sẽ dễ thương biết mấy
trận mưa sẽ dễ thương biết mấy
và anh…
vẫn đứng đây trú mưa
như đã từng đứng đây
mấy chục năm về trước
cũng dưới hàng bông giấy này
chỉ có cổ họng khô
còn tất cả đều ướt
em biết không
những năm tháng đó
anh sống vật vờ như chiếc bóng
dửng dưng với tất cả
hoài nghi tất cả
lạnh lùng với tất cả
với cả chính mình
em biết không
ở đâu anh cũng là người khách lạ
ở đâu cũng không phải quê hương
em ơi làm sao em biết được
một gã ưu du
cứ đi cứ đi
như kim đồng hồ chạy ngược
buồn như chú dế than lạc mất đám cỏ xanh
đứng dưới cột đèn ngơ ngẩn…

3.
bên đường anh đang trú mưa
mưa đang trú anh
một trận mưa… hai trận mưa … ba trận mưa …

Hạc Thành Hoa

***

Tuyền Linh
Giọt Mưa Hay Giọt Lệ Tôi

Hôm kia nắng vẫn còn đây
Hôm nay nắng trốn để cây lúa tìm
Nhìn ra cổng ngắm mái đình
Ngói khô hớt hải ngẩng nhìn mây đen

Trời vần vũ, người lăng xăng
Cuối vụ sắp gặt một phen chạy đồng
Chạy đâu cho kịp cơn giông
Ba chưn bốn cẳng chổng mông kêu trời

Sấm gầm… gió giật… mưa rơi…
Giọt mưa hay giọt lệ tôi rớt đồng?
Nước về trắng ruộng mênh mông
Bập bềnh lúa cũng phập phồng trôi trôi

Đoạn lòng, đành phải buông xuôi
Mồ hôi nước mắt góp nuôi ruộng đồng
Để chừ bụng lại hoàn không
Hạt lúa trốn mất trống không dạ dày

Mắm rau, rau mắm qua ngày
Củ khoai củ sắn kéo cày mùa sau
Thân trâu hoàn lại thân trâu
Đời nông dân có phép mầu nào thay?

Cuộc đời lắm nỗi trớ trêu
Kẻ ăn không hết, người nghèo kiết thân
Về đây nhìn cảnh phong trần
Nghe quá xa xót… mần gì giúp đây (?)

Chữ nghĩa chỉ bằng bàn tay
Mà trời cao quá… vói lay sao tường!
Thôi đành làm vạc kêu sương
Đêm đêm âm vọng mười phương tỏ bày.

2017
Tuyền Linh
***


Nguyễn Đức Nhơn
Người Đàn Bà Ở Căn Chung Cư Số 13

Có tiếng động mạnh trên tầng lầu 2. Tôi bước vội ra sân nhìn lên, nhưng chỉ kịp thấy cánh cửa căn chung cư đóng sầm lại rồi im bặt. Tôi chờ thêm vài phút xem có chuyện gì xẩy ra nữa hay không thì điện thoại trong nhà bật reo. Tôi vội trở vào nhấc máy và sững sờ khi nghe đầu dây bên kia:
– Anh Hải ơi! anh lên khóa cửa giùm em. Hồi chiều ra đi em quên khóa. Cảm ơn anh
– Alô… alô… tôi chưng hửng, càu nhàu, con khỉ! chưa kịp hỏi gì đã cúp, đồ điên…
Hôm sau, khi gặp bà Trang, tôi chưa kịp mở lời phân trần… thì bà nhìn tôi tươi cười nói:
– Cám ơn anh đã khóa cửa giùm em. Nghe bà Trang nói, tôi chới với không biết phải ứng đáp thế nào vì tôi có khóa cửa giùm bà bao giờ đâu! Chìa ở đâu mà khóa! Bất chợt, tôi nghĩ đến một điều, ở Mỹ chìa khóa nhà ai nấy giữ, đâu có tùy tiện đưa cho người khác được. À, mà sao bà ta lại nghĩ là mình có chìa khóa nhỉ? Nếu bà bị mất đồ thì sao? Nghĩ đến đây tôi đâm hoảng nhưng cố lấy bình tĩnh hỏi:
– Chị có bị mất mát gì không?
Bà Trang cười tươi như hoa:
– Dạ không, nhờ anh khóa cửa nên không xẩy ra chuyện gì. Tôi bực mình hỏi:
– Này chị Trang, khóa cửa của chị có mấy chìa vậy?
Bà Trang trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên:
– Anh hỏi làm chi vậy. Anh Hải ơi, ở Mỹ đừng hỏi những việc như vậy, không tốt đâu. Tôi kêu trời không thấu nhưng nhìn cái vẻ vô tư ngớ ngẩn của bà, tôi đành gượng gạo nói, đúng… đúng…, chị nói đúng! À này chị Trang, tôi làm gì có chìa khóa của chị mà chị nhờ tôi khóa cửa? Chị có chắc là khi trở về, cửa của chị đã được khóa không? Bà Trang nhìn tôi với vẻ ngơ ngác, cặp mắt láo liên hình như đang nghĩ đến một điều gì đó, rất quan trọng. Bà thở dài sườn sượt nói: – Xin lỗi… xin lỗi… em lẩm cẩm quá. Bà vừa nói vừa vội vã bước lên thang gác…

Gần một tháng nay căn chung cư số 13 của bà Trang cửa đóng im ỉm, cũng không thấy xe bà đậu ở parking lot. Tôi không rõ bà đi xa hay đã đổi chỗ ở? Tuy căn nhà bỏ trống, nhưng thỉnh thoảng lại nghe có tiếng chân người đi tới, đi lui, nện gót giầy thình thịch trên sàn nhà. Đôi khi lại có ánh sáng lờ mờ của loại đèn ngủ phát ra từ khung cửa sổ. Tôi vốn là người không tin ma quỷ, nhưng với những hiện tượng kỳ lạ trên tầng lầu 2, khiến tôi khó tìm được giấc ngủ thanh thản, nhất là về ban đêm. Tôi đâm lo và không biết tại sao lại cảm thấy buồn buồn sau những ngày không gặp bà Trang! Nhiều đêm tôi cứ trằn trọc, thao thức mãi cho đến nửa đêm mới chợp mắt được. Tôi đến ở đây gần được một năm. Tôi không vợ con và cũng chẳng có bạn bè, thân thuộc gì. Có thể nói bà Trang là người thân quen duy nhất của tôi. Bà cũng như tôi. Độc thân. Tính tình trầm lặng. Không thích giao du bạn bè. Bà làm thu ngân viên cho một trung tâm bán lẻ. Ngoài thời gian đi làm và đi chợ, hầu như lúc nào bà cũng có mặt ở nhà.

Căn nhà số 13 yên tịnh lạ thường và bà Trang cũng bặt vô âm tín. Một hôm khi đi làm về, tôi thấy một miếng giấy nhỏ dán trên khung cửa, chữ viết bằng mực đỏ, nhòe nhoẹt từa tựa như viết bằng máu. Miếng giấy chỉ viết có mấy dòng “Anh Hải ơi! Ngày 13 tháng này anh lên gác đốt vài nén hương trên kệ thờ giùm em nhé. Cảm ơn anh nhiều” Tôi đọc mấy dòng chữ mà dở khóc dở cười, lầm bầm trong miệng, ở căn nhà số 13 mà còn nhờ mình ngày 13 lên gác đốt nhang. Trời ơi, con số 13 đâu có đem ra đùa cợt được. Tôi tính nhẩm, từ đây đến ngày 13 còn khoảng hơn một tuần. Thế là tôi cứ nơm nớp chờ đến ngày 13 xem có việc gì xẩy ra hay không?

Đang ngồi đọc báo ở phòng khách thì điện thoại reo. Tôi nhấc lên nghe nhưng điện thoại cứ rít rít, è è không làm sao nghe được. Giọng nói ở đầu dây bên kia cũng nhòe nhoẹt, đứt quãng, chỉ nghe được mấy tiếng Trang đây… Trang đây… rồi sau đó là những tạp âm nghe đến rợn người.
Đó là vào một chiều Chúa nhật trời nhá nhem tối. Bên ngoài mưa tầm tã. Những giọt nước từ trên hành lang căn gác nhỏ xuống khóm bạc hà trước hiên nghe lộp độp, lộp độp, thật buồn. Tôi mở cửa bước ra ngoài. Một cảnh tượng làm tôi suýt đứng tim đang hiện ra trước mắt. Những giọt máu từ trên hành lang căn gác rơi xuống đọng trên mấy phiến lá bạc hà, rồi nhiễu từng giọt xuống bộ xương người làm bằng chất nhựa trắng mà tôi đã đặt ở dưới mái hiên trong ngày Halloween. Tôi bước vội vào nhà định gọi 911. Nhưng kịp nghĩ lại, không lẽ có kẻ giết người vào giờ này? Tôi do dự một chút rồi quyết định lên gác xem việc gì đã xẩy ra. Tôi cẩn thận rón rén từng bước đến trước căn nhà số 13. Tôi ngẩn người khi phát hiện ra ngay ở mép hành lang, ai đó đã để một hộp sơn màu đỏ (loại pha nước). Nước mưa tạt vào làm tràn hộp sơn rồi theo kẽ hở chảy xuống tầng dưới. Tôi lững thững bước xuống cầu thang mà nghe lòng buồn rười rượi!…

Vào nhà ngả lưng trên sofa, tôi ngẫm nghĩ, có lẽ gần đây mình bị ám ảnh bởi căn nhà số 13, nên không kịp nhận định, quan sát kỹ càng mới tưởng tượng ra cái chuyện buồn cười, lảng nhách này! Nhưng rồi tôi lại nghĩ, tại sao hộp sơn để ngay trước căn nhà số 13 mà không để ở một căn chung cư nào khác? Tại sao hộp sơn lại mở nắp ra? Tại sao lại chọn đúng vào buổi tối nhá nhem, trời mưa tầm tã này? Hay là có kẻ dùng sơn đỏ để hăm dọa, cảnh cáo mình? Tại sao và tại sao?… Hàng loạt câu hỏi khó trả lời lần lượt hiện ra trong đầu tôi…

Ngày 13 đã đến. Khi làm về, tôi đứng ở parking lot rất lâu để quan sát kỹ càng căn nhà bà Trang. Cửa vẫn đóng. Không thấy có hiện tượng gì khác lạ. Tôi vào nhà thay quần áo rồi vô bếp lục thức ăn. Bưng tô cơm có trộn xì dầu và cải mặn vào phòng khách, tôi vừa ăn vừa nghĩ đến những mẩu chuyện rùng rợn mà người ta đã kể cho tôi nghe về con số 13. Câu chuyện đầu tiên xẩy ra vào thời Đệ nhị Thế chiến, một quả đại pháo của quân Đức rớt ngay giữa một nhóm lính Mỹ gồm 13 người, tất cả đều tử thương. Từ đó về sau người ta rất úy kỵ con số 13 và cũng từ đó người ta sáng tác ra không biết bao nhiêu chuyện ly kỳ quái đản có liên quan đến con số 13, với một kết luận chắc nịch, 13 là con số xui tận mạng!

Ngồi nghĩ ngợi lung tung một hồi đâm chán, tôi mở cửa ra ngoài cho thư giãn một chút, nhưng bầu trời xám ngắt, cảnh vật âm âm, tôi vội trở vào nhà vì thấm lạnh. Ngồi một mình ở phòng khách, tôi cảm thấy buồn bã, cô đơn, trống vắng vô cùng. Thú thật, cái cảm giác này chỉ đến với tôi trong những ngày không gặp bà Trang. Nhưng lắm lúc tôi lại cảm thấy băn khoăn vì những hiện tượng quái lạ trên tầng lầu 2.

Click here to Read More