Bài Mới Đăng

Nguyễn An Bình
Tiếng Biển Đêm

Đêm nào đứng trước biển
Nghe tiếng sóng muôn trùng
Thì thầm như kể chuyện
Tình đôi lứa thủy chung.

Ngọn đèn từ khơi xa
Nhớ ai mà không tắt
Bốn mùa vẫn trổ hoa
Tinh khôi trên ngọn sóng.

Phải em là mắt biển
Đắm đuối mãi tìm nhau
Tôi dã tràng tan biến
Đau con sóng bạc đầu.

Em có nghe biển gọi
Lời muối mặn gừng cay
Khắc tình lên ghềnh đá
Nồng nàn chưa hề phai.

Thả lòng mình xuống biển
Đón giây phút bình yên
Em có cùng anh đếm
Từng tiếng gọi biển đêm.

3-2018
Nguyễn An Bình

Trúc Thanh Tâm
Khúc Bolero Cho Em

Tóc dài và mắt em xưa
Người đi buổi đó vẫn chưa thấy về
Tháng mười mưa gió lê thê
Ai còn hát khúc Bolero buồn

Chiều nay đón nhỏ tan trường
Mai kia mốt nọ đâu còn đón đưa
Nhớ lần hai đứa trú mưa
Nhỏ cứ sợ ướt nép vừa vào tôi

Ngoài trời nặng hạt mưa rơi
Lòng tôi nhỏ biết đầy trời bão giông
Nhỏ ôm kỷ niệm sang sông
Nhỏ cười hay khóc khi lòng tôi đau

Xin đừng dỗ ngọt đời nhau
Nhớ quên rồi cũng một màu thê lương
Có ai qua khúc sông buồn
Vớt trăng chết đuối giữa trường giang, sâu !

Trúc Thanh Tâm

***

Hồ Chí Bưu
Một Mình

Em về tóc gió thôi bay
Và con đường nhỏ dấu hài còn ghi
Em về trang điểm Tây Thi
Mới hay phố cũ người đi xa rồi

Sông đời thuyền lửng lờ trôi
Vào nơi mặc định của thời hoang sơ

Thâm cung – chiếc lá đề thơ
Nhặt lên mới biết tình cờ lá rơi

Còn đâu ánh mắt môi cười
Còn chăng dư ảnh của người cố nhân
Hửng hờ một nỗi phân vân
Thì thôi mộng đẹp chỉ ngần ấy thôi

Còn đây những áng mây trôi
Quạnh hiu một góc hiên đời lãng phai
Thơ buồn chẳng biết tặng ai
Tặng ta để nhớ những ngày không em…

Hồ Chí Bửu

***

Lê Thị Ngọc Nữ
Xe Đạp

Chiếc xe đạp xinh xinh
Cô bé tươi như nắng
Khoảng trời thu chợt lặng
Đắm chìm nụ cười duyên

Lung linh lúm đồng tiền
Bên nét môi rạng rỡ
Chiếc xe đạp một thuở
Gợi nhớ thời học sinh

Không gian xanh yên bình
Ngát thơm hương hoa cỏ
Răng khểnh gieo bỡ ngỡ
Tóc mây chạm bờ vai

Nghiêng nghiêng bóng chiều say
Mắt long lanh cười nụ
Cô bé càng quyến rũ
Xe đạp chở trời thu…

Lê Thị Ngọc Nữ

***

Nguyễn An Bình
Gõ Cửa Mùa Thu Hà Nội

Tìm trong màu mắt em trong
Hương sen Tây Hồ thơm ngát
Tiếng sâm cầm trong sương sớm
Mênh mông bờ bãi sông Hồng.

Qua cầu Long Biên thép gỉ
Thấy một Hà Nội trầm tư
Theo em dịu dàng xuống phố
Mơ gì trên những cửa ô?

Tìm trong Hà Nội nồng thơm
Sắc hoa Ngọc Hà xưa cũ
Ai gánh mùa thu qua đó
Ngậm ngùi lăng miếu ngàn năm.

Tiếng chuông buông chiều lặng lẽ
Se lòng cỏ biếc chân đê
Khẻ chạm vào từng vân đá
Nghe hồn thiên cổ quay về.

Vàng tươi trên từng tán lá
Nắng dịu dàng theo gót em
Mùa thu khẽ khàng tha thiết
Long lanh bóng nước Hồ Gươm.

Gõ cửa mùa thu Hà Nội
Chút tình sương khói mong manh
Mùi cốm vòng trong se lạnh
Nghiêng lòng Hà Nội vào đêm.

8-11-2017
Nguyễn An Bình

***

Hồ Chí Bửu
Giả Sử…

Giả sử em là hoa hướng dương
Ta làm tia nắng của yêu đương
Tất nhiên hoa sẽ vương theo nắng
Nắng gởi men tình hoa gởi hương

Giả sử em là hoa Tường Vi
Ta cười mà chẳng nói năng chi
Để cho hoa sẽ hoài e ắp
Ta cố làm như chẳng biết gì

Giả sử em là hoa Cúc vàng
Nở trong vườn đẹp chốn nhân gian
Để hoa rung nhẹ – ta làm gió
Ve vuốt cành hoa kẻo vội tàn

Giả sử em là…giả sử thôi
Ta làm đối kháng của hoa rơi
Tình ta là cả khung trời rộng
Chan chứa trăm năm một kiếp người…

Hồ Chí Bửu

***

Đức Phổ

Gởi Tình Qua Biển 

Bây giờ trên những con đường em đi
sẽ cỏ hoa và mây hiền buổi sớm
có thể mưa giăng hay gió chướng buổi chiều
em chớ vội kéo nghiêng tình nón
lá yêu kiều sẽ rụng. Tội vai thon!

Biết đâu chừng trên lối em đi
sẽ rất bướm và ong khát nhụy
em nhớ khép đôi tờ mộng mị
để khi về hơi hám vẫn nguyên trinh!

Có thể rằng trên lối em đi
sẽ có lắm chông gai phía trước
đừng e ngại làm chùng chân bước
bởi bên em đã sẵn bóng anh dìu!

Có thể rằng trong những giấc khuya
em sẽ lạnh vì thiếu làn hơi đắp
hãy khêu lên ngọn tình đang héo hắt
gọi tình về có nghĩa đã yêu đương!

Và có thể… Ngày sau… Có thể
mỗi buồn vui là mỗi bước thăng trầm
hãy nồng mặn như gởi tình qua biển
gió muôn trùng biết thổi tới em không?!…

Chuyện Thế Gian

Có những điều không thể nói ra
Mà giữ trong lòng thêm nặng
Đâu có dễ làm người vô cảm
Sống càng nhiều hệ lụy càng sâu!

Hết những chiều tà đến những sớm mai
Con người lăn theo vòng quay cơm áo
Đường danh lợi và đường an phận
Luôn có nhiều lối rẽ khác nhau.

Thử ngồi buồn lặng lẽ đêm thâu
Mới biết con dế con trùng cũng cần hô hấp
Thử làm người lao công cực nhọc
Mới thấy người bóc lột là bất lương.

Thử đứng nghiêng về 1 phía
Sẽ thấy đời chông chênh
1 bên vực thẳm 1 bên rừng sâu
Sẽ thấy mình hiu quạnh.

Thử sống trong vùng bão xoáy
Mới quý thời biển lặng sóng yên
Thử làm 1 người chân thật
Mới thấy xót xa cho kẻ dối gian.

Thử là chim sống trong lồng
Mới thấy khát khao trời cao đất rộng
Thử làm người nô lệ
Mới hiểu cái khôn cùng của mơ ước tự do.

Thử sống lãng xa yêu dấu
Mới biết lòng quạnh quẽ sắc hương
Thử sống bên ngoài tổ quốc
Mới biết yêu sâu sắc nước mình…

Những nấm mộ
Chỉ để chôn người chết
Chẳng thể nào chôn được chuyện thế gian!

Đức Phổ

***

Hoàng Định Nam

Lòng tôi, một thời , là rừng hoang.
Em, con thú nhỏ ,dạo lối mòn.
Vết chân để lại trên bờ suối.
Nước trôi hoài chưa xóa hết dấu son.

Lòng tôi, một thời, là phố thị.
Phố đông người, phố vẫn nhận ra em.
Em qua đó một lần, rồi xa khuất.
Chút bụi hồng lưu lại vẫn có tên.

Lòng tôi, một thời, là sông vắng.
Em, cánh buồm, thiếu gió xuôi trường giang.
Sông hoang lạnh cả đôi bờ lau sậy.
Thuyền trôi rồi,gợn sóng mãi chưa tan.

Lòng tôi, một thời, là sa mạc.
Em cơn mưa qua đấy một lần.
Mưa tan nhanh trả lại trời nắng cháỵ
Sao cát vàng giữ mãi giọt nước xanh.

Lòng tôi, một thời, là bão tố
Em ,cành mềm,lả ngọn ,bình yên.
Trường lớp ấy, em đi về mấy buổi
Có buổi nào em học chuyện nhân duyên?

Lòng tôi, bây giờ, là cổ viện
Bảo tàng những kỷ niệm xa xưa .
Em có đến, mời em, người du khách.
“…vâng! ngày tàn, nên hoang vắng, xin thưa”

Hoàng Định Nam

***

Lê Thị Ngọc Nữ

Đông

Đông chớm nụ dã quỳ
Mỉm cười rung rinh gió
Đông đã về đến ngõ
Ngọn thông xạc xào reo

Đông về ngang lưng đèo
Sương mù giăng phố núi
Đông ghé qua con suối
Nước mừng róc rách vang

Đông về trong mơ màng
Ươm tình ca trong vắt
Đông về cùng ánh mắt
Đôi tình nhân đắm say

Đông về anh có hay?
Giấc mơ ta còn nợ
Đông ngày xưa gặp gỡ
Tình đọng mãi đến giờ…

Lê Thị Ngọc Nữ

***

Nguyễn An Bình
Cuộc Tình Tháng Ba

Tháng chín nào còn rơi trong mắt em
Màu nắng lung linh một thời xa lắc
Hoa khế li ti ngược chiều bay mất
Để lại con đường sầu chẻ chia hai.

Chẳng lạ gì đâu nắng sớm mỗi ngày
Thành phố em qua nhạt nhòa ký ức
Tiếng dế ngâm sương mấy mùa thao thức
Mới thấy đời mình nhiều sợi tóc phai.

Em đâu còn về chắt lọc mưa mai
Nhớ tháng chín xưa hẹn hò đến lớp
Đường dù xa – mưa tình cờ bất chợt
Tim bỗng vui tìm giây phút gần nhau.

Hạnh phúc đành thôi giọt rượu không màu
Chảy xuống đời tìm thời gian đọng lại
Mong manh lắm lá hoàng hôn trốn chạy
Ngỡ tháng chín còn trong trái tim nhau.

Cần Thơ của tôi tháng chín thuở nào
Đường Ngô Quyền bao nhiêu năm vẫn thế
Tôi trở lại nhìn sông trôi lặng lẽ
Đưa một người – tím cánh lục bình xa.

Áo tương tư vàng lắm một mùa hoa
Em chiếc lá giữa dòng đời xuôi ngược
Đi qua hết thời thanh xuân lỡ bước
Một mình tôi tìm vạt áo ngày mưa.

Nguyễn An Bình

***

 Lê Thị Ngọc Nữ
Nha Trang Mùa Thu

Đón ngày mới chào bằng tiếng sóng
Gió buông tơ dạo phím đàn dừa
Nắng pha lê trong vắt đong đưa
Mùa thu hát cùng Nha Trang biển

Ta có một chút gì lưu luyến
Vinpearl land nổi tiếng thiên đường
Đến bao lần ta vẫn mến thương
Nhớ cà phê thơ vương cùng bạn

Người Nha Trang dễ thương vô hạn
Gặp gỡ rồi nhớ vạn ngày sau
Như tình yêu con sóng lao xao
Cây Phong Ba tự hào bên biển

Mùa thu ơi, thơ trào bật tiếng
Khúc nhạc lòng xao xuyến san hô
Dấu chân in cát trắng ven bờ
Hòn Tằm vẫy, đón chờ hội ngộ.

Lê Thị Ngọc Nữ

***

Trúc Thanh Tâm
Khúc Bolero Cho Em

Tóc dài và mắt em xưa
Người đi buổi đó vẫn chưa thấy về
Tháng mười mưa gió lê thê
Ai còn hát khúc Bolero buồn

Chiều nay đón nhỏ tan trường
Mai kia mốt nọ đâu còn đón đưa
Nhớ lần hai đứa trú mưa
Nhỏ cứ sợ ướt nép vừa vào tôi

Ngoài trời nặng hạt mưa rơi
Lòng tôi nhỏ biết đầy trời bão giông
Nhỏ ôm kỷ niệm sang sông
Nhỏ cười hay khóc khi lòng tôi đau

Xin đừng dỗ ngọt đời nhau
Nhớ quên rồi cũng một màu thê lương
Có ai qua khúc sông buồn
Vớt trăng chết đuối giữa trường giang, sâu !

Trúc Thanh Tâm

***

Đêm Đầu Tiên
Trong Nhà Dưỡng Lão

Đêm đầu tiên má vào nhà dưỡng lão
Xót lòng đau, có còn cách nào đâu
Đời hồng trần đã mòn mỏi tiêu hao
Trí tuệ sáng, xác thân đau cùng kiệt

Con thì thầm theo tiếng lòng tha thiết
Má cố lên, rồi mọi chuyện qua thôi
Đom đóm cũng bồi hồi bên khung cửa
Như chờ gì, đêm buồn đợi ngày mai

Chưa muốn khóc… đã mặn môi vì bởi
Má ru đời trong giấc ngủ chắt chiu
Con nằm đây lòng hiu hắt tiêu điều
Leo lét sáng bên ngọn đèn lu tỏ

Con nhớ má nắm tay con thuở nhỏ
Ngày dắt dìu đêm trằn trọc không yên
Khi ấm đầu con hờn dỗi ưu phiền
Má bên cạnh tợ bà tiên hiền dịu

Thời gian trôi nốt thăng trầm muôn điệu
Làn tóc phai, môi mắt cũng nhạt màu
Con nơi đây, má nằm đó xanh xao
Đơn lạnh quá kiệt cùng đêm dưỡng lão…

Thảo Lan

***

Trúc Thanh Tâm
Tình Em Gái Hậu Phương

Tình thư lính với niềm thương nỗi nhớ
Gởi về em, em gái nhỏ hậu phương
Chiều phương anh sắc mây tím buồn buồn
Chiều phương đó có còn cơn mưa không nhỏ

Đợi chờ anh cho thời gian vàng võ
Những giọt sầu chìm vào giấc cô miên
Chiếc lá rơi hắt bóng những ngọn đèn
Em nghĩ sao khi làm người yêu của lính

Xin em hiểu dẫu xa lòng cách mặt
Tình ta bồi phù sa đỏ bến sông
Và sáng nay màu nắng đẹp vô cùng
Gió lay khẽ những nụ hồng chúm chím

Giọt nước mắt của hôm nào đưa tiễn
Đến bây giờ vẫn rung động đời nhau
Mắt môi em còn đó dấu yêu đầu
Vườn đời anh mùa xuân về mở cửa

Mây yểu điệu hẹn hò cùng với gió
Ngoài xa kia đan trắng một vùng mưa
Mai anh về em ơi em đừng khóc
Cánh thiệp hồng thơm ngát giấc mơ xưa!

Trúc Thanh Tâm

***

Nguyễn An Bình
Mùa Trăng Thiếu Phụ

Chìm đáy cốc em về trong sương khói
Tiếng cười trong xanh thuở tuổi hai mươi
Đôi mắt ướt ươm mùa thu cổ tích
Gió heo may vừa chớm nụ vàng rơi.

Em từ độ chim quyên rời bỏ núi
Bước thiên di trên cánh mỏng ngang trời
Mưa cõng nắng qua mùa thu trống trải
Bỏ sau lưng cây vắng một đời thôi.

Chìm đáy cốc men tình ta đã cạn
Cỏ yêu đương se kết có một lần
Môi đã ngọt chảy từ trăm năm trước
Đâu hay người về từ cỏi xa xăm.

Ta nào biết thời gian không có tuổi
Nên hoài trông từng sợi tóc vừa rơi
Ai sẻ chia cùng ta thời hoạn nạn
Hoàng hạc bay xao xác cả mây trời.

Em hãy uống cùng ta mùa thu cũ
Những triền sông xuôi ngược suốtbãi bờ
Đã trôi mất bao mùa trăng thiếu phụ
Rụng xuống hồ chếnh choáng một vần thơ.

20-9-2017
Nguyễn An Bình

***

Nguyễn Đức Nhơn
Gởi Cho Em

Tháng ngày trôi như bóng câu cửa sổ
Sao em còn giữ mãi không buông?
Sao không để cho lòng thanh thản
Nhẹ nhàng bay như khói hoàng hôn.

Mời em cùng ta ra bãi biển
Nhìn xa khơi bằng ánh mắt hiền hòa
Em sẽ thấy biển trời bát ngát
Và lòng mình cũng rộng rãi bao la.

Mời em qua Châu Phi, Châu Á
Để tận mắt nhìn nỗi khổ trần gian
Để em thấy mình vô cùng hạnh phúc
Vì chúng ta đang sống giữa Thiên đàng.

Em có thấy từng năm, từng tháng
Êm đềm trôi như bóng chiều qua
Tôi và em, hai xác người chưa chết
Thì cần gì lặn hụp giữa phong ba…

Cứ để cho mặt trời buổi sáng
Và buổi chiều mọc, lặn hồn nhiên
Em đã biết thế gian là cõi tạm
Sao còn chưa buông hết não phiền?

Hôm qua chúng ta mừng năm mới
Hình như em có chút mủi lòng
Ta cũng biết dù năm cùng tháng tận
Cũng chỉ là nhịp thở của hư không.

Nguyễn Đức Nhơn

***

Lê Ký Thương
Bánh Căn Đường Phố Sài Gòn

Một chiều Sài Gòn lất phất mưa, chạy xe trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa, tình cờ bắt gặp tấm biển nhỏ vỏn vẹn dòng chữ :”Bánh căn Phan Rang” treo trước căn nhà mặt tiền, lòng bỗng dưng nhớ đến hình ảnh bà Tự mỗi sáng ngồi đổ bánh căn ở cái thị xã nhỏ nhất miền Trung và cũng hiền hoà, bình yên nhất miền Trung trước năm 1975. Bánh căn vốn là món ăn dân dã, chỉ có ở miền Trung, người miền Bắc và miền Nam khi nghe nói đến, họ không thể hình dung ra là món gì.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Hồi nhỏ ở quê, mỗi năm đến mùa mưa lụt hay cuối mùa lúa, nhiều nhà trong xóm giàu thì đổ bánh xèo, nghèo thì đổ bánh căn. Trời lạnh, cả nhà ngồi quây quần bên lò bánh toả hơi nóng, chờ mẹ hay chị cạy bánh chín từ khuôn bỏ vô chén, phết một muỗng nhỏ hành xào với mỡ heo, vừa nóng vừa dòn, đậm đà với nước chấm, cắn một miếng nghe rôm rốp trong miệng, ngon thiệt là ngon! Thổi thổi ăn ăn, quên cả mưa giông hay bão tố. Không hiểu tại sao nó hấp dẫn mình đến thế! Thật ra, nó chỉ là chút bột gạo loãng, nếu sang thì pha thêm lòng trứng gà hay vịt, được nướng chín trong khuôn đất, nhưng ngon hay dở chính là nhờ tay người… pha chế nước chấm. Ăn mỡ với nước chấm nhiều khát nước, chạy ra vò nước giếng tu một gáo rồi vô ăn tiếp. Ăn đến lúc “cành hông” mới thôi.

Lớn lên, tôi về Phan Rang làm việc một thời gian. Buổi sáng đầu tiên, người bạn thân sinh trưởng ở đây mời đi ăn sáng. Anh nói sẽ đãi tôi món “đặc sản” nổi tiếng quê anh. Từ đường phố chính, cũng là đoạn hơn cây số của quốc lộ 1A, rẻ sang con đường nhỏ yên tĩnh, hai bên rợp bóng cây me Tây cổ thụ, đi trăm bước là đến nơi bán món “đặc sản” của anh. Đó là hàng bánh căn trên lề đườngï, đối diện với rạp chiếu bóng Việt Tiến, rất đông người chen nhau ngồi ăn, ngồi chờ trên những chiếc đòn gỗ nhẵn thín. Không hẳn là những người lao động tay chân mà có cả những cô môi son má hồng, những anh sơ-mi trắng đóng thùng và những cô cậu học sinh lớn nhỏ, khác xa hình ảnh những hàng bánh căn nép mình ở góc chợ mà tôi thường gặp suốt dải miền Trung. Một bà cụ khoảng bảy mươi, ngồi giữa hai lò bánh căn rực than hồng, bên cạnh là một xoong bột gạo thật lớn và những đồ đựng nhiều loại nước chấm khác nhau. Hai tay thoăn thoắt, bà vừa múc bột đổ bánh, vừa giở nắp khuôn nóng cạy bánh chín cho khách, động tác thuần thục. Bà đổ bột từ khuôn này sang khuôn khác một cách nhuần nhuyễn, không giọt nào rơi vãi ra ngoài. Thật điệu nghệ như người bán dầu phụng trong truyện cổ tích! Phụ giúp bà lo cho khách là người con gái tuổi cũng đã năm mươi. Tôi chú ý đến chiếc vá nhôm múc bột của bà, trên miệng khuyết một chỗ ở nơi bột chảy vào khuôn, thật đúng là “nước chảy đá mòn”. Cái vá khuyết ấy chính là dấu ấn không thể xoá được trong tâm trí của nhiều thế hệ sinh trưởng và làm việc trong lòng thị xã hết sức dễ thương này. Và cũng chính nó đã làm nên thương hiệu “Bánh căn bà Tự” nổi tiếng. Bánh căn bà Tự có nhiều loại nước chấm, ngoài mắm nêm, mắm nước trộn với xoài sống băm nhỏ, đặc biệt nhất là nước cá cơm kho (mà cá cơm cũng là đặc sản của vùng biển Ninh Thuận, hầu như có quanh năm)…

Hàng bánh căn bà Tự còn được khách đặt tên là “Đài phát thanh thị xã”, vì nơi này là “trung tâm thu phát và bình luận” mọi tin tức từ tin “xe cán chó” đến “chó cán xe”, từ chuyện gia đình ông A bà X trong cái thị xã chỉ cần “thở nhẹ trong nhà đã ra ngoài ngõ”õ đến chuyện quốc gia đại sự… Mẹ con bà Tự thay nhau làm “phát thanh viên”. Vì vậy có người ghiền đến đây không chỉ để ăn mà còn để nghe tin nóng hổi, giống như người Sài Gòn ghiền đọc báo sáng sớm. Đôi khi khách hàng trung thành của bà Tự cũng hụt hẩng vì có hôm đến mà không thấy “đài” cũng chẳng thấy “phát thanh viên”. Lúc đó, không nói ra ai cũng biết rằng có “VIP lớn” về. “VIP lớn” ở đây không ai khác hơn là tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Văn Thiệu. Ông Thiệu quê làng Tri Thuỷ, cách thị xã khoảng mười cây số, thời nhỏ cũng từng ăn bánh căn bà Tự,ï nên mỗi lần về thăm tỉnh nhà đều cho xe rước mẹ con bà và cả đồ nghề vào dinh Tỉnh trưởng, nơi ông trú ngụ, đổ bánh cho ông điểm tâm.

Có người không phải dân Phan Rang chính gốc, chỉ sống ở đó một thời gian, nhưng khi đi xa vẫn nhớ bánh căn bà Tự. Cô bạn Việt kiều gốc Bắc, thuở nhỏ học ở Phan Rang, xa nơi chốn này gần nửa thế kỷ, khi về nước lần đầu, ghé lại đó chỉ cốt mua cho được lò bánh căn của người Chăm Bầu Trúc mang về tận Mỹ. Khi “hàng” về đến nhà an toàn, cô vui mừng điện thoại báo tin nóng cho bạn bè sống cùng tiểu bang biết “thành tích” của mình và mời họ họp mặt để khai trương lò bánh căn mang hồn đất quê nhà. Có người không ngại đường xa, lái xe mất năm tiếng đồng hồ chỉ để được cùng bạn bè ngồi quanh lò bánh căn đốt bằng lửa gas thay cho than củi vừa ăn vừa ôn lại những kỷ niệm ngày xưa.

Một lần lên Đà Lạt, người bạn rủ đi ăn bánh căn ở dốc hẽm đường Phan Đình Phùng. Hàng này cũng đốt lò bằng lửa gaz, lòng cảm thấy mất một nửa hứng thú, mặc dù trời se lạnh rất hợp với không khí thưởng thức món ăn dân dã này. Người bạn chê mình nặng lòng hoài cổ. Đành chịu.

May mà bánh căn giữa phố Sài Gòn còn dùng than củi, nhưng họ không dùng vá mà dùng ấm trà nhôm rót bột vào khuôn, ngôn ngữ công nghiệp gọi là “cải tiến kỹ thuật”. Chủ hàng bánh căn nằm trên đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa tuy cũng là dân Phan Rang nhưng đã sinh sống ở Sài Gòn từ bé, không phải là hậu duệ của bà Tự. Nhưng đặc biệt những người đổ bánh và chạy bàn đều là người Phan Rang để bảo đảm thương hiệu “Bánh căn Phan Rang” của họ. Thương hiệu này nói lên đặc sản của địa phương, giống như “Nem Ninh Hòa”, “Bún bò Huế”, “Bánh tráng Trảng Bàng”, “Chả cá Lã Vọng”… Còn khách hàng bây giờ phần đông có lẽ ăn vì cái tiếng hơn là vì cái miếng. Họ là những trai thanh gái lịch, hay những người lớn tuổi đưa cả gia đình đi ăn bằng taxi hay xe riêng. Món ăn này giờ đây đã lên… bàn chớ không còn cảnh người ăn ngồi bệt quanh lò, nôn nóng chờ từng cái bánh lốc từ khuôn ra chén, nên không còn là món ăn của con nhà nghèo. Chỉ có con nhà nghèo ngày xưa bây giờ đã khá giả mới rủ bạn bè, gia đình vào đây để ăn chút… kỷ niệm xa vời.

[/read]

Hồn Sách Cũ

Tôi chẳng nhớ cái máu mê sách cũ đã “lậm” vào người mình lúc nào… Hễ có tiền trong túi là phần xác dắt phần hồn tôi đến các cửa hàng sách cũ rẻ tiền trong thành phố. Ở đó, tôi có thể tìm mua được những quyển sách năm xửa năm xưa mà mình cần hay mình thích, với giá hợp túi tiền khiêm tốn của mình. Những quyển sách này hiếm khi được đứng đàng hoàng trên kệ. Chúng thường nằm lăn lóc dưới nền nhà, bụi bám đầy “người”, có khi thân hình còn nguyên vẹn, có khi rách một vài trang, có khi áo quần (bìa) nửa còn nửa mất, hoặc bị lột sạch, mùi ẩm mốc xông lên khiến mình có cảm giác không còn mũi để thở. Chúng giống như những đứa con rơi. Mà chúng bị bỏ rơi thật! Vì chủ nhân của chúng không cần chúng nữa, để trong nhà cũng vô tích sự, lại thêm chật nhà, chi bằng bán cho mấy bà ve chai được đồng nào hay đồng đó. Rồi mấy bà ve chai lại đem bán ký cùng giấy, báo loại cho các cửa hàng sách cũ… Nhờ thế, những người mê sách cũ như tôi mới có duyên may gặp được… “người tình trong mộng”.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Rước quyển sách về nhà, trân trọng đặt nó lên bàn, ngồi lật từng trang, cẩn thận vuốt những nếp nhăn cho thẳng, dán lại những chỗ rách cho lành, tôi thấy phảng phất trên đó một bàn tay ngà ngọc hay một bàn tay thư sinh đã từng lật từng trang để đọc với niềm say mê, những câu, những đoạn đắc ý thì gạch bút đỏ hay đánh dấu bên lề. Rồi tôi hình dung khuôn mặt thể hiện tình cảm vui, buồn, yêu, giận khi họ bắt gặp những tình tiết trong cuốn truyện… Những cuốn sách xưa, có lời tặng ghi trang đầu, cho tôi biết rằng ngày tháng năm đó có một chàng yêu một nàng mà không dám trực tiếp tỏ tình, bèn mượn sách đưa duyên… Mà chàng hay nàng đó bây giờ đã có cháu kêu bằng cố, nếu lập gia đình trễ cũng lên chức nội, ngoại, hoặc đã thành người thiên cổ. Mới hay thời nào sách cũng “hỗ trợ tích cực” cho những mối tình đầu, dù mối tình không thành, nhưng cũng là một kỷ niệm đẹp. Đúng là “lật trang sách cũ, thấy hồn người xưa”.

Thật đáng khâm phục trí tưởng tượng phong phú bằng nhà văn Trần Hiuền Ân. Anh mua được một quyển sách cũ từ một bà ve chai – quyển “Việt Nam tự điển” của Hội Khai Trí Tiến Đức khởi thảo, in lại tại Pháp năm 1954, do Văn Mới xuất bản và phát hành tại Việt Nam. Chính hai câu ca dao: “Có trầu mà chẳng có cau, làm sao cho đỏ miệng nhau mà làm” viết trên trang đầu quyển sách cùng tấm thiệp chúc Xuân của một người đang ở trong Trại học tập cải tạo gởi về cho vợ con kẹp bên trong nó, đã gây niềm hưng phấn cho anh viết truyện ngắn Người chứng ít lời in trên báo Thanh Niên cách đây gần chục năm. Truyện vừa đến tay bạn đọc thì tòa soạn báo nhận được lá thư của một nữ độc giả nhận mình là cháu kêu bằng chú của nhân vật chính trong truyện, nhân vật đó cùng gia đình đã định cư ở Mỹ. Mặc dù truyện hoàn toàn hư cấu, nhưng lạ lùng thay, cuộc đời của nhân vật chính lại giống với cuộc đời thật của người chú cô độc giả kia! Đây không phải là một giai thoại mà là chuyện thật trăm phần trăm.

Sách cũ còn cho tôi biết được thời kỳ tiếng Việt còn phôi thai, cha ông chúng ta viết, học như thế nào. Giở bộ “An Nam sử lược” (2 quyển) của cụ Trần Trọng Kim, sách giáo khoa dành cho lớp sơ học, in lần thứ nhất tại Hà Nội năm 1916, chúng ta sẽ thấy câu văn tuy dài lê thê, hết “cái sự” này đến “cái sự” nọ – có lẽ cách diễn đạt này bị ảnh hưởng tiếng Pháp thời bấy giờ – nhưng từng dấu phẩy, dấu chấm trong từng câu rõ ràng, dứt khoát, không hề có câu què. Bây giờ, thỉnh thoảng đọc vài cuốn sách hay bài báo của vài vị có học hàm, học vị, đang ngon trớn bỗng gặp một câu què hay chữ tắt, chữ ngược chận đường, tức cành hông, giống như mình đang say mê lái xe rượt theo một bóng hồng bất ngờ gặp đèn đỏ ở ngã tư đường! Lúc đó, đành tự trách mình không theo kịp “đà tiến triển của tiếng
Việt” chứ sách báo ngày nay đều có người đứng tên biên tập hẳn hoi kia mà. Cái đèn đỏ có tội vạ gì đâu mà trách, nếu mình biết rõ luật đi đường?

Sách cũ cũng dạy cho tôi biết được nhân cách của người làm sách thời xưa. Cầm quyển “Thơ Hậu Vân Tiên” của Nguyễn Bá Thời tân soạn, loại sách dành riêng cho giới bình dân thích truyện thơ, tuồng tích ngày xưa, đọc xong rồi vất, thấy ngay nơi trang bìa: tổng phát hành: Thuận Hòa, xuất bản: Phạm Văn Thình, bên lề trái ghi “Nhà buôn Thuận Hòa – 54, đ. Tháp Mười – Cholon” bên lề phải ghi “Bổn này ông Phạm Văn Thình đã nhường đứt bản quyền lại cho tôi: Trần-văn-Sửu”. Nhà buôn Thuận Hòa của ông Trần Văn Sửu chuyên tổng phát hành “các thứ thơ, tuồng hát bộ, bài ca, tiểu thuyết của nhà xuất bản Phạm Văn Thình”. Thật rõ ràng và trung thực, tuy lúc bấy giờ không có “Luật xuất bản” và “Luật bản quyền”!

Bạn là người mê sách cũ, chắc chắn sẽ có khi mua được những quyển sách có bút tích, chữ ký (và cả triện son) của tác giả đề tặng ông A bà B, cả những tác giả nổi tiếng và những người được đề tặng nổi tiếng. Khi gặp những quyển sách này, không phút giây chần chừ, tôi mua ngay, cho dù đã rách nát, hay đã có trong tủ sách. Tôi mua nó với ý nghĩ luôn nằm sẵn trong bụng là chỉ tốn vài ngàn, nhiều nhất là vài chục ngàn (hiếm khi), nhưng mình “cứu vớt” được linh hồn một quyển sách. Một quyển sách góp mặt với đời, ngoài danh xưng là đứa con tinh thần của tác giả còn có công sức đóng góp của nhiều người. Nào là người biên tập của nhà xuất bản, thợ xếp chữ, người sửa morasse, “xếp ty-pô” – (bây giờ là nhân viên ở khâu chế bản, bình phim), thợ nhà in, người làm ra giấy in, kim, chỉ khâu, keo, hồ dán v.v… Tác giả hãnh diện vì nó, sung sướng ngồi viết tặng từng người đáng kính, từng người thân yêu, bạn bè mà không hề nghĩ rằng có một ngày nào đó, vì duyên cớ nào đó, nó bị vất ra cửa hàng sách cũ! Thật tiếc thương cho số phận những quyển sách đó và đáng trân trọng mang nó về tủ sách nhà mình.

Năm nay, nhân Hội chợ Sách của Thành phố có sáng kiến tổ chức cuộc thi và trưng bày Những quyển sách “Vàng” được xuất bản cách đây năm mươi năm trở lên. Tôi nghĩ, đây là cơ hội tốt cho những người mê sách gặp gỡ và trao đổi nhiều điều thú vị quanh “những đứa con cưng” của mình. Và biết đâu, sáng kiến của Nhà xuất bản TP.HCM bước đầu sẽ tác động đến ý thức của thế hệ trẻ biết quí trọng và gìn giữ cẩn thận tủ sách gia đình mình.

Tiếng Chim

Tiếng chim chiền chiện
Chao liệng trên không
Dệt lụa tơ hồng
Mùa xuân hiển hiện

Tiếng chim chiền chiện
Chao liệng trên không
Ru giấc mục đồng
Tơ trời phụng hiến

Tiếng chim chiền chiện
Nhỏ giọt chân kinh
Khắp cõi ba sinh
Hưởng đầy phúc lạc.

Mơ Và Mộng

Trên tấm bố trắng tinh
Giữa bốn bề sóng động
Tôi thấy hiện nguyên hình
Một thảo lư thơ mộng.

[/read]

Ân Tình Và Nước Mắt

1.
Tháng 10 năm 1970, khi nhà thơ Tô Đình Sự vào Sài Gòn nhận Sự vụ lệnh biệt phái về Ty Thuế vụ Cam Ranh, thì bạn bè ở Phan Rang hết sức bất ngờ và ngỡ ngàng hay tin anh chết bất đắc kỳ tử vì tai nạn ô-tô!Mới cách đó hai hôm, anh còn kéo tôi đi nhậu với “băng” Thuế vụ, dẫu anh biết rằng tôi vẫn là… cá lòng tong chuyên phá mồi. Tô Đình Sự khoảng một năm trước khi mất, tính tình anh thay đổi hẳn.Từ một người ít nói, sống nhiều với nội tâm, với những mất mát, những khổ đau trong kiếp người, dù đang thanh xuân, anh trở thành một người “ồn ào”, lúc nào cũng “oang oang cái mồm”, ưa “cà khịa” với bạn bè, rất dễ làm mích lòng nhau. Trường hợp cụ thể nhất là giữa Tô Đình Sự với Chu Trầm Nguyên Minh.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Hai anh là bạn thân và bạn thơ với nhau. Khi Chu Trần Nguyên Minh in tập thơ “Quê hương Thơ và Nước mắt” do Mai thực hiện vào năm 1968 tại Phan Rang, ở căn nhà số 11 Nguyễn Thái Học, thì hôm đó có cả Tô Đình Sự, từ trường Hạ sĩ quan Đồng Đế Nha Trang chạy xe Honda vượt đoạn đường hơn một trăm cây số, về dự buổi ra mắt tập thơ của bạn mình. Trong không khí thân tình giữa một nhóm bạn bè văn nghệ ít ỏi ở Phan Rang, Sự vừa nhìn thấy bìa tập thơ do họa sĩ Thanh Hồ trình bày đã vội thốt lên: “Quê hương thơ và nước mắm”. Không biết có phải vì quê hương Phan Thiết của Chu Trầm Nguyên Minh nổi tiếng nhờ nước mắm không, hay vì một lý do nào đó động chạm đến lòng tự ái và cả lòng tự trọng, nên Chu Trầm Nguyên Minh “đỏ mặt tía tai”, hét to: “Đm., mày dám nói xóc óc tao hở? Có ngon thì ra đây chơi!” – “Chơi thì chơi, tao sợ gì mày”… Sáng hôm đó, thay vì bạn bè văn nghệ sẽ kéo đến quán cà-phê Diễm “uống cà-phê nghe nhạc Trịnh” ăn mừng tập thơ còn nóng hổi mùi mực in ronéo, thì phải can ngăn một cuộc ấu đả sắp xảy ra giữa hai người bạn thân nhau.

Khi Tô Đình Sự mất, bạn bè thân đều đưa anh đến nơi yên nghĩ cuối cùng là nghĩa trang Cà Đú. Tôi thấy Chu Trầm Nguyên Minh đứng một mình một góc nghĩa trang, đầu trần giữa cái nắng cháy da người của Phan Rang.Lặng lẽ buồn. Đôi mắt hoe đỏ vừa khóc tiễn đưa người bạn thân vắn số. Những giọt nước mắt ấy đã xóa tan phút giây giận bốc đồng của tuổi trẻ thường có. Những giọt nước mắt ân tình và cũng là thân tình!

Bốn mươi ba năm sau, khi tập san Quán Văn chuẩn bị ra số “Viết về Sông Dinh – Phan Rang”thì Chu Trầm Nguyên Minh, người từng sống và dạy học ở Phan Rang 10 năm, sốt sắng bảo tôi viết về Tô Đình Sự vì biết tôi là bạn thân của Sựvà một người làm thơ sinh sống ở Phan Rang nữa là Ngọc Thùy Khanh. Nhưng vì lý do vừa khách quan vừa chủ quan, tôi thất hứa với anh. Tôi chỉ cung cấp một số tư liệu về Tô Đình Sự có sẵn trên mạng cho Nguyên Minh thực hiện số báo này. Còn Ngọc Thùy Khanh thì tôi không quen.

2.
Sau Tết 2013, Nguyên Minh rủ tôi, Lữ Kiều và Sâm Thương về Phan Rang ăn giỗ người Cô – mẹ kế của Nguyên Minh – người mà tôi và bạn bè của Nguyên Minh gọi là Cô Hai, hay vắn tắt là Cô, một cách trân trọng. Trước 75, thời gian tôi sống ở nhà Cô chừng bảy năm, nhưng không liên tục, đi xa một thời gian chừng hai năm rồi về lại “căn nhà số 11 Nguyễn Thái Học”. Tôi có nhiều kỷ niệm đẹp ở nơi chốn này.Cô và những người em của Nguyên Minh coi tôi như một thành viên thân tín của gia đình.Nhưng ngày Cô mất, tiếc rằng tôi không có mặt ở Phan Rang.Bây giờ là dịp thuận lợi để về dự ngày giỗ Cô.

Chúng tôi hẹn gặp nhau ở ga Sài Gòn để cùng nhau đi chuyến tàu đêm. Trước khi lên tàu, Nguyên Minh cho biết có thể Chu Trầm Nguyên Minh cùng đi trên chuyến tàu này để về thăm lại Phan Rang, nơi anh đã dạy học ở Trường Trung học Duy Tân và Trường Trung học Pklong Garai bảy tám năm trời.Nói “có thể” vì anh quyết định về chuyến đi muộn trong khi chúng tôi đã mua vé tàu trước đó rồi. Khi tàu bắt đầu lăn bánh, tôi là người nhỏ tuổi nhất, được bạn bè “đề cử” đi khắp các toa tìm xem có anh không. Tôi đi dần về phía toa ghế ngồi thì gặp anh, tay bắt mặt mừng, nhưng thấy vẻ mặt anh không tươi, không vui chút nào, mà thay vào đó là nụ cười xanh xao và gượng gạo. Tôi đã biết anh mang chứng bệnh ung thư gan sáu bảy năm nay, tôi hỏi anh có cảm thấy mệt không và sao không đi toa giường nằm. Anh trả lời: mình ngồi quen rồi, nằm nó lại mệt. Anh hỏi lại tôi: Thương đi tàu có khỏe không? Sở dĩ anh hỏi vậy là vì biết tôibị tai biến mạch máu não đã hơn ba năm. Tôi trả lời vui, cốt cho anh an tâm: Sức khỏe của mình hầu như bình thường, tốt, chỉ còn cơ bàn tay hơi yếu, mình đi làm bằng xe gắn máy, còn làm tài xế chở bà xã dạo phố được mà…

Khi tới Phan Rang, chúng tôi đã được Sơn, em của Nguyên Minh, đặt phòng trước ở khu resort nằm trên bãi biển Ninh Chữ. Tôi, Nguyên Minh và Chu Trầm Nguyên Minh ở cùng phòng. Lữ Kiều cùng Sâm Thương ở một phòng. Chúng tôi nói đùa với nhaubốn thằng mình thuộc hạng VIP, đi chơi mà đem theo bác sĩ riêng. Bác sĩ riêng của chúng tôi là Thân Trọng Minh, tức LữKiều, cả bốn đều là bệnh nhân của anh.

Lúc này, chúng tôi thấy Chu Trầm Nguyên Minh tươi tỉnh hẳn lên, đã bỏ lại nụ cười gượng của anh trên chuyến tàu đêm.Trong ba ngày vui chơi thăm thú và dự đám giổ Cô Hai ở Phan Rang, Chu Trầm Nguyên Minh được gặp lại người học trò cũ mà anh dạy vẽ ở trường Poklong Garai. Anh đã phát hiện người học trò này có năng khiếu hội họa đồng thời khuyến khích, giúp đỡ cậu ta đi theo con đường nghệ thuật. Anh học trò Đàng Năng Thọ ngày xưa bây giờ trở thành họa sĩ, hiện nay là Giám đốc Bảo tàng Chăm Ninh Thuận. Ở Phan Rang anh còn một cô học trò nữa ở trên đường đi xuống làng Tấn Tài, chúng tôi phải “lặn lội” trong đêm vì đường xá mới mở, không có đèn đường, hỏi thăm nhiều người mới tìm ra nhà. Cô học trò này nói nhờ anh động viên từ thời còn “học thầy” mà đến nay đã xuất bản trên 30 tác phẩm (!).

Đêm trước khi chúng tôi rời Phan Rang, con trai của Ngy Hữu mời “mấy chú” đi uống cà-phê ở quán “xịn và to nhứt” ở đây. Trong không khí bạn bè ấm cúng, thân tình và khung cảnh nên thơ, Chu Trầm Nguyên Minh mặc sức trút bầu tâm sự. Anh kể lại cái duyên gặp lại Nguyên Minh vào năm 2012 để rồi không ngờ có hứng viết lại và viết nhiều, viết hăng sau khi “bỏ bút” từ tháng 3 năm 1975. Rồi anh kể sang giai đoạn đi “học tập cải tạo”, giai đoạn làm huấn luyện viên tennis ở Sài Gòn khi đưa cả vợ con từ Phan Rang vào, nhờ thế mà có tiền nuôi vợ, nuôi con ăn học đàng hoàng… Anh say sưa kể hết chuyện này sang chuyện khác, chúng tôi chỉ im lặng ngồi nghe. Lần đầu tiên tôi thấy anh phấn chấn nói nhiều như vậy. Tôi trộm liên tưởng tới trường hợp “đột biến” của Tô Đình Sự, bạn thân của anh và cũng là bạn thân của tôi.

3.
Trước Tết 2014, khi nghe Đỗ Hồng Ngọc cho biết tin Chu Trầm Nguyên Minh đã vào bệnh viện trở lại, tôi bèn gọi điện cho anh. Anh nói với tôi: mình khỏe lại rồi, để hôm nào xuất viện mình báo cho Thương biết, Thương đến nhà thăm. Sau Tết, tôi gọi cho Nguyên Minh hẹn hôm nào đến nhà thăm anh,cùng đi cho vui, thì Nguyên Minh báo cho biết anh đã nhập viện lại hôm mùng 2 Tết, và lần này ở bệnh viện Triều An, tít trên An Lạc, gần bến xe Miền Tây. Nguyên Minh phải chờ đứa con ăn Tết ở Phan Rang về, mới nhờ cháu chở đi được. Rất may , hôm 11-2 Trương Văn Dân điện thoại cho tôi hẹn sáng hôm sau đến thẳng bệnh viện thăm Chu Trầm Nguyên Minh, Dân cũng cho biết rõ khoa nào, phòng nào.

Khi tôi chạy xe gắn máy đến bệnh viện Triều An thìmọi người đã có mặt trong phòng điều trị rồi. Lúc đầu, tôi đã đứng trước cửa phòng của anh, nhưng không dám gõ cửa bước vào, vì thấy tấm bảng đề chữ VIP.Đến khi tôi gọi điện thoại cho Trương Văn Dân hỏi lại cho rõ, thì Dân mở cửa chạy ra đón tôi.Khu này ở tầng 2, dành riêng cho khách “VIP”, mỗi người một phòng.

Ngoài con dâu của anh, tôi thấy có vợ chồng Đặng Châu Long, vợ chồng Trương Văn Dân, Vũ Tiến Thành và một cây viết của Quán Văn (xin lỗi tôi quên tên) ngồi vây quanh giường bệnh. Trông anh gầy hẳn, chứ không vàng vọt như tôi tưởng. Tôi nắm cánh tay anh, hỏi thăm sức khỏe, anh trả lời “mình khỏe rồi Thương” với giọng mềm yếu hẳn, hình như anh rơm rớm nước mắt…

Lần thứ nhất, cách nay 44 năm, tôi thấy những giọt nước mắt của anh khóc vĩnh biệt một người bạn thơ, bạn thân.Lần này, những ngấn lệ của anh có phải để chuẩn bị tiễn biệt chính mình?

Lê Ký Thương

[/read]

***

Nguyễn Đức Nhơn
Khóc Tây Thi

Mịt mùng đất Việt, trời Ngô
Lệ giai nhân chảy mờ Cô Tô đài
Nỗi lòng biết ngỏ cùng ai
Ngùi trông cố quốc mơ ngày hồi hương

Chạnh lòng nhau lắm Ngô Vương
Dặm ngàn một buổi đoạn trường chia xa
Ngẩn ngơ ta lại nhìn ta
Đất trời mù khói can qua lạnh lùng

Bao năm cá chậu chim lồng
Chôn vùi nhan sắc, nghìn tâm sự buồn
Hồng nhan nhi nữ tình trường
Làm thân con quốc kêu sương được gì

Nghìn sau ai khóc Tây Thi
Cho ta góp một chút gì cho nhau
Lựa lời nói với gươm đao *
Đừng đem máu lệ nhỏ vào thiên thu.

* Ý thơ Trần Yên Thảo

Nguyễn Đức Nhơn

***

Luân Hoán
Liêm Lạc, Làng Quê Nội

Nằm cách trung tâm thành phố Đà Nẵng, về hướng Nam, khoảng mười một cây số, tính theo đường trải nhựa, cộng với đường đất, quê nội tôi là một làng quê xinh xắn, bốn mùa ấm áp tiếng chim.
Làng được mang tên Liêm Lạc, ý chừng muốn khoe khoang cái bản tính liêm khiết lẫn lạc quan của người dân trong làng. Những đường gió mạnh, những nguồn nước lớn, hằng năm vẫn không quên ghé thăm, nhưng con đất hiền hòa, hình như đã bao đời vẫn chưa hao hụt, sứt mẻ. Ngọn mạ xanh vẫn theo chân tháng ngày thành nhánh lúa, thành hạt gạo, thành cọng rơm, thành gốc rạ, khoan thai, thầm lặng, thật là thương.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Này em yêu có nhớ, cái thời em ghé thăm quê nội một anh chàng dại gái, mà em lượm được giữa đường, vì vô ý va phải guidon xe solex của hắn, tạo dịp cho hắn ba hoa:

nhớ thời lả lướt dông solex,
đụng phải một người, yêu mấy năm !

Thời đó, có một ngày, từ một điểm đứng trên quốc lộ một, cũng như nhiều người khác, em phải luồn ngang lòng chợ Miếu Bông, để đến một con sông nhỏ, cách chợ chẳng bao xa. Hình như đôi guốc quai xanh của em đã có người xách hộ. Và đôi tay lưỡng lự níu đôi tay, run run bước lên đò.
Dòng sông trong vắt. Nước rỉ rả hát theo làn gió nhẹ. Mùa hạ đang vào tháng thứ hai. Những chùm rong xanh mảnh khảnh, bơi quanh đùa ghẹo vài cụm hoa súng tím. Trời xanh bát ngát. Những tấm mây trắng không bay, rủ rê bầu trời lặn sâu vào lòng sông. Cô lái đò nghiêng nghiêng nón, gật đầu cười mỉm. Cái ghe se sẻ tròng trành, thong thả rướn mình. Tôi thòng hai tay xuống nước. Lỡ dại làm trôi mùi hương của em mà chẳng thể vớt được một lọn mây nào. Tay chèo dù gượng nhẹ đến đâu, mái dầm cũng cắt nước thành sợi dài. Trời mây chợt không thấy bóng mình trong khoảnh khắc. Rồi chúng ta lên bờ. Rồi chúng ta lội bộ.

Quê nội tôi như em đã thấy. Những lũy tre xanh, những hàng cây găng rậm lá. Tất cả chúng, đứng chỉnh tề một hàng dọc, nắm chặt tay nhau, chạy theo bờ một con đường mòn. Sát chúng là dòng thủy lợi, lưng lửng nước rúc rích chảy. Mặt đường, đất sét chai cứng, lỗ chỗ những dấu chân trâu, nhưng cũng đủ rộng lòng nuôi một ít cỏ gà lẫn lộn cùng cỏ may, cong đầu theo chiều gió. Và sát mép đường bên kia là ruộng lúa đang độ thanh xuân.

Em bước đi không khó, nhưng cũng chẳng dễ dàng. Ngay từ lúc cho bàn chân hôn hương đất đầu làng, chắc em đã thấy sừng sững khỏi đầu những hàng tre, màu ngói nâu đen cao ngất. Rồi từ ngã rẽ trước nhà ông Hội Du, tầm nhìn của em bắt gặp hai cái cổng gạch lem luốc vàng. Và chẳng mấy chốc, em bước lên những viên gạch lót đường dẫn vào cổng sân. Hồ cau nằm giữa hai lối đi này, không mênh mông, nhưng chẳng hẹp hơn một hồ bơi tân tiến. Đàn chột dột, dễ chừng có tới trăm con, vừa gọi nhau, vừa chuyền qua những tàu cau lấp lánh nắng vàng. Chúng nhắc nhở nhau chào khách đến, mừng người đẹp thị thành, chẳng phải mê trai mà theo về, chỉ vì tò mò muốn biết cái ổ của người mình lỡ thương, đã từng ở ngót ba năm.

Phải, tôi đã có ba năm ở đây, ở trong ngôi nhà ngói lớn nhất làng này, kể từ năm 1951. Năm tôi theo phụ thân lén lút hồi cư. Cùng về với chúng tôi còn có chị tôi, Lê Thị Kim Anh và bé Võ Thị Diệu Phương, con chị Cưu, gọi tôi bằng cậu.
Vào thời điểm này, trên lãnh thổ hình chữ S nằm bên cạnh Thái Bình Dương, đã có hai nước Việt Nam. Một là Quốc Gia Việt Nam do Quốc trưởng Bảo Đại lãnh đạo, được thừa nhận bởi thỏa ước Elysée, ký tại điện Elysée, Paris ngày 08 tháng 3 năm 1949. Hai là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa do ông Hồ Chí Minh làm Chủ tịch, được Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa và Liên Xô thừa nhận năm 1950. Cũng năm 1950, vào tháng 2, Hoa Kỳ và Anh Quốc lần lượt công nhận chính phủ Quốc Gia Việt Nam. Và qua trung gian của Pháp, Hoa Kỳ bắt đầu viện trợ kinh tế lẫn quân sự cho Đông Dương và Việt Nam. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của người Việt trở thành cuộc đối đầu giữa Thế giới Tự do và Cộng sản. Danh xưng Việt Minh lặng lẽ cáo chung vào ngày 19 tháng 2 năm 1951 sau khi tên Đảng Lao Động Việt Nam ra đời. Cuộc chiến mỗi ngày một thêm sôi động với những trận đánh chính qui và dồn dập hơn. Quê nội tôi lúc bấy giờ là một gạch nối giữa hai vùng có hai lực lượng thù địch nhau này. Đã 10 tuổi đầu nhưng tôi gần như chưa biết gì về những diễn tiến quân sự trên đất nước mình. Có nghe súng nổ, nhưng chưa bao giờ mục kích được những tàn phá của chiến tranh. Và tôi đã bước vào cuộc sống mới của mình trên quê cha đất tổ một cách vô tư..

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Trước nhất tôi có thêm một người mẹ. Đó là người vợ cả của ba tôi. Tôi gọi bà bằng mẹ vì đã gọi người sinh ra mình là má. Mẹ tôi, người dong dỏng cao, khỏe mạnh, nhan sắc trung bình. Bà có quí danh là Ông Thị Thấp, sinh năm 1896, người làng Phong Lệ. Phong Lệ là quê hương của một danh tướng dưới triều Tự Đức. Phong Lệ nằm bên trong con đường sắt quốc gia, cạnh quốc lộ 1, nơi tôi có một đôi lần ghé qua, và buồn tay viết mấy đoạn:

mon men thả bước theo đường sắt
về thăm Phong Lệ giữa mùa xuân
gặp con chiền chiện trên đồng vắng
vừa hót vừa bay khéo quá chừng

chân bước mặc chân, lòng ngoái trông
cánh cò tha đất lướt qua sông
bên kia Giáng Động đìu hiu quá
biết có ai còn ngó viển vông ?

Phong Lệ bây chừ buồn quá thôi
ngoại ngồi rờ rẫm lá trầu hôi
dưới chân con mực thiu thiu ngủ
chừng cả hai đang quên lửng đời

tréo ngược tay treo cột gỗ lim
nhìn kèo nhìn rượng mộng lim dim
giữa không gian lặng như tờ ấy
có tiếy gáy trầm Ông Ích Khiêm

rờn rợn ngóc đầu đảo mắt quanh
nổi da gà nhón gót đi nhanh
nghiến răng tre nhái lời ma gọi
làng vắng buồn phơi vàng mái tranh

Phong Lệ ầu ơi, Phong Lệ ơi
ngủ ngon đừng lẩy, đạp lòng tôi
ví dầu kỷ niệm thành hơi thở
cũng thổi không tan nỗi ngậm ngùi.

(Cảm Ơn Đất Đá Trổ Thơ, Lòng Ta Hạt Bụi Vu Vơ Bám Hoài)

[/read]

Chắc chắn mẹ tôi có bà con gần xa gì đó với cụ Ông Ích Khiêm, ông tướng uy dũng nhưng không kém tài văn học, như lịch sử đã ghi chép. Tuy là dân quê nhưng mẹ tôi không trực tiếp làm nông. Bà thay chồng cai quản một số ruộng đất, cho tá điền làm ăn chia hoa màu. Trong thời gian chúng tôi đi tản cư, bà sống cùng với hai cháu nội. Cháu gái tên Thương, cháu trai tên Thiệu. Thương trạc tuổi tôi nhưng phải gọi tôi bằng chú. Cha của chị em Thương, anh ba Huân, đã qua đời, mẹ đã bước thêm bước nữa.

Này em yêu có biết, đêm đầu tiên tôi ngủ trong ngôi nhà của quê nội với bao nhiêu cảm xúc buồn vui. Từ một mái tranh vách đất, không giữ nổi cái lạnh của khí đá, núi đồi. Đến cái ấm áp của một ngôi nhà ngói đồ sộ, nhiều phòng. Tôi như gối phải những giấc chiêm bao khi chợp mắt. Cái mỏi của đôi bàn chân trong chuyến đi đã biến mất. Cái thoải mái của thân thể chợt đẻ ra cái nhớ nhung người mẹ và đứa em, đang ở xa tít trên núi rừng. Và mặc dù nằm cùng hai đứa cháu và chị Kim Anh, tôi cũng cảm thấy sờ sợ một cái gì đó.

Đêm ở quê nội thật ra không mấy yên tĩnh. Bóng tối đậy kín ngôi nhà. Đóng cửa cài chốt cẩn thận, nhưng không thể không nghe những tiếng dế, tiếng ếch nhái, tiếng tre trở mình trong gió và cách khoảng vài giờ, lại vang lên tiếng rít rờn rợn của đường đạn đại bác. Rồi một tiếng ‘bịch’ bất ngờ như đang va phải nóc nhà. Nhưng không, qua các song hở của loại cửa gỗ lá sách, tôi thấy bên ngoài trời sáng như đêm có trăng. Đó là những quả hỏa châu từ đồn Quá Giáng, bắn cầm chừng, để quan sát. .

Qua đêm đầu tiên với làng quê Liêm Lạc, tôi được ba tôi dẫn ra mắt ông nội và một số chú cô ruột thịt. Những người đang hiện diện trên con đất chôn nhau cắt rún của mình. Trên con đất mà bia mộ tiền hiền còn đang được xây thành, đắp cao giữa mặt ruộng trước nhà. Và những người khuất mặt được tập trung, nằm lộn xộn ngó trời trong đất vườn Thơ Sĩ, một tên gọi có thật không thi vị hóa.

Ông nội tôi là một nhà nho, đã già. Ông ở một mình trong ngôi nhà ngói cổ kính. Kiến trúc khá giống một ngôi chùa. Nhà ông tôi nhỏ hơn ngôi nhà của ba tôi, nhưng hai cái sân gạch thì lớn gần bằng nhau. Quanh sân gạch nhà ông không có thành rào. Ở bên phải hướng mặt nhà ngó ra, sân nhà ông tiếp giáp sát vách thành rào nhà ba tôi. Thành rào cao quá đầu tôi. Phía dưới xây kín, nửa trên được để hở từng ô vuông đều nhau. Bề mặt tường khá rộng. Chiều chiều bọn trẻ láng giềng thường hay leo lên, ngồi thòng chân hai bên, làm những động tác như đang lái xe, hay cỡi ngựa.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Ông tôi chẳng mấy khi đi dạo ra sân. Thỉnh thoảng lắm tôi mới bắt gặp ông mở cánh cửa, nghiêng đầu nhìn bên ngoài giây lát, rồi lặng lẽ khép cửa. Tôi có cảm tưởng ông đang tự giam mình. Ngôi nhà của ông là một cõi huyền bí, luôn tạo cho tôi những cảm giác bất an. Ánh sáng ngọn đèn dầu quả trứng, cộng với vài tia mặt trời, rớt xuống từ mái nhà, bởi một miếng ngói được thế bằng một tấm gương trong, không đủ soi rõ mặt những vật dụng trong nhà. Và ông tôi, có lẽ vẫn lơ mơ ngủ suốt ngày trên tấm chiếu hoa không còn rõ màu sắc. Một cái quan tài đậy nắp được kê song song với giường nằm của ông. Đây là người bạn đang sẵn sàng để đồng hành với ông vào một cõi khác. Rõ ràng ông tôi đã chuẩn bị chu đáo cho chuyến đi cuối cùng của mình.

Tôi hơi run khi phải đứng bên ông tôi. Cái không khí lạnh lẽo, cái mùi mốc mốc khó chịu, làm tôi rờn rợn. Tay tôi khẽ nâng cao vừa tầm cho ông nắm. Một cái gì đó rất lạ chợt xuyên suốt thịt da tôi, vừa lạnh lại vừa ấm. Lạnh vì sợ, ấm vì tình ruột thịt thiêng liêng nguồn cội. Tôi cũng nhận ra rất rõ những đường nhăn khô nhám chạy trên da mình một cách yếu ớt, trìu mến. Không biết ông tôi có quan sát tôi không. Tôi thì không dám nhìn thẳng. Dù vậy, trong vài phút tò mò, tôi cũng nhận ra khuôn mặt ông rất giống khuôn mặt người cha thân yêu của mình. Trán cao, mắt sâu, mũi thẳng, miệng rộng quả là những nét thanh tú, rắn rỏi . Thời gian và những nhọc nhằn trong cuộc sống đã không cho phép tôi gặp lại khuôn mặt yêu đời, linh hoạt cách đây mấy chục năm. Tôi lặng lẽ nhìn những móng tay thật dài và cong của ông. Có lẽ ông không nắm được chắc chắn khi cầm một vật gì. Chòm râu dài của ông làm tôi nhớ đến các hình vẽ những ông tiên thánh thiện, nhiều phép thuật. Là một nhà nho, quan tâm đến việc học, nên ông tôi dò hỏi ba tôi về vấn đề học hành của tôi. Ông cũng tỏ ra không mấy bằng lòng về việc đèn sách của thằng Tiên, con chú Diên, một đứa cháu, ngày ngày vẫn hai lần mang bữa ăn vào cho ông.

Ông nội tôi, tục danh Lê Hữu Huy, có hai vợ. Bà nội tôi tên Trần Thị Dưỡng, xuất thân từ làng Mân Quang. Ngôi làng nằm bên kia sông Cái. Con sông mà ngày hồi cư tôi đã có dịp sang đò. Bà nội tôi sau khi sinh hạ ba tôi được hai ngày thì không may, qua đời. Người em gái của bà, Trần Thị Thừa, đã thay chị nuôi ba tôi và tiếp tục cùng ông tôi sinh thêm mười ba người con nữa. Đó là các chú Lê Hữu Hoanh (thường gọi Hương Hoanh), Chú Hữu Côn (thường gọi chú Lạc), chú Lê Hữu Huyến (thường gọi Hương Nam), chú Lê Hữu Thao (thường gọi Cửu Tiền), Lê Hữu Tập (thường gọi chú Sô), Lê Hữu Dựt (thường gọi chú Tham), Lê Hữu Cấp (thường gọi chú Diên), Lê Hữu Huyến (thường gọi chú Mười Thước), Lê Thị Sửu, Lê Thị Lý, Lê Thị Bạc, Lê Thị Mẹo (4 người con gái đều qua đời sớm).

Năm 1951, ngoài chú Cửu Tiền còn ở vùng kháng chiến, chú Sô lập nghiệp ngoài Cẩm Lệ, chú Mười Thước bị Pháp bắn chết trên dòng sông Cái. Các chú còn lại đều sống quanh quẩn bên ông nội tôi, mỗi người một nóc gia. Chú Diên lúc bấy giờ mới chỉ là một ông cai thợ hồ. Có nhà cho thuê tại thành phố Đà Nẵng, nhưng gia đình chú vẫn bám trụ tại nhà quê để nuôi dưỡng ông nội. Có lẽ chú Diên là người thương ông nội tôi nhiều nhất.
Tình cảm anh em giữa ba tôi và các người chú hình như không được ngọt ngào lắm. Có lẽ không phải vì chuyện cùng cha khác mẹ mà do những so bì từ đối xử, có phần không đồng đều của ông nội. Ba tôi và chú Cửu Tiền được ông nội tôi cho ăn học đầy đủ. Trong lúc các chú khác phải lo việc đồng áng. Ngoài việc học chữ Nho, chữ Hán ba tôi còn học chữ Pháp khi ông được gởi vào nội trú trường dòng Pellerin tại Huế, cùng thời với cụ Lê Ấm, con rể nhà chí sĩ Phan Châu Trinh. Ngoài điểm này, ba tôi còn khác các em của ông về mặt đào hoa. Nếu các chú tôi, mỗi người một vợ một chồng, thì ba tôi có chính thức đến bốn người đàn bà trong cuộc sống của ông, và bà nào cũng sinh cho gia đình họ Lê những đứa con. Tôi đã là người con thứ 13, nên vẫn thường được các người em bà con gọi là Anh Mười Ba.

Nhắc về ông nội, tôi còn có một kỷ niệm rất đẹp. Một hôm ông sai thằng Diên tìm dẫn tôi đến. Tôi hồi hộp không biết chuyện gì, lòng vân phân lo sợ. Nhưng dĩ nhiên cũng phải trình diện. Khi tôi đến, trong ánh sáng mờ mờ, ông giao cho tôi một cuốn sách mỏng, hình chữ nhật, và dặn:
– Con đem về đưa ba, bảo ba dạy cho
Ông ngừng một giây rồi nói tiếp:
– Gắng mà học lấy vài chữ thánh hiền nghe con

Tôi đã thực hiện theo ý ông tôi, tuy vậy việc học thuộc một vài mặt chữ trong Tam Tự Kinh không phải là dễ dàng. Cho đến nay vốn liếng chữ Hán của tôi vẫn chỉ gồm Nhứt một, Nhị hai, Tam ba, Tứ bốn… và bảng cửu chương tôi vẫn để trong đầu, rất tiện lợi: cửu cửu bát nhứt, bát cửu thất nhì, thất cửu lục tam, lục cửu ngũ tứ…ngũ ngũ nhì ngũ, tứ ngũ nhì chi, tam ngũ nhất ngũ…vv…

Em yêu dấu, mong em đừng phiền về những khai báo quá thành thật đến vụng về của tôi. Chẳng phải tôi bị ám ảnh bởi một thời học sáng tác lý lịch, sau 1975. Mà vì khi viết, tôi nhớ trực đến chú Diên, người đã nhắc nhở tôi, gắng bỏ thì giờ tu chỉnh lại bản gia phả của tộc họ. Tôi làm sao có đủ khả năng này, trước cái ham chơi và không mấy khi tha thiết về dòng họ của mình.

Nhớ về quê nội, chẳng thể không nhớ những người thân yêu ruột thịt. Tôi gõ tên mọi người lên bàn chữ cùng những hạt lệ hiếm hoi ứa ra từ hai khóe mắt, không ngăn được. Mỗi tên gọi hiện ra trước mặt tôi một quãng đời, với bao nhiêu hình ảnh. Tôi không thể không sống lại cùng những năm tháng đã qua. Mùi hương dĩ vãng chợt phảng phất bên mình. Trong tưởng nhớ im lặng, tôi đã dùng trái tim mình để lắng nghe, để nhìn thấy, để bắt gặp, và để vẽ vời từng vóc dáng, từng cử chỉ thân mến xưa lên từng dòng chữ.

Em yêu dấu, với nhiều người thân, tôi đã có khá nhiều ngỗ nghịch, lỗi lầm. Nhớ lại, viết lại như một lời tạ tội, dù tôi biết chẳng còn ai nỡ quở trách tôi. Tôi viết cho chính tôi, viết vội vàng, viết bừa bãi, thiếu mạch lạc, nhưng thời gian có còn bao nhiêu đâu. Những đồng tiền cấp dưỡng già của chính phủ Canada sẽ gởi đến vào đầu năm tới. Người công dân bất đắc dĩ của họ không biết sống báo đời đến bao lâu. Ông nội tôi qua đời năm 84, thân phụ tôi cũng nghỉ ngơi vào đúng cái tuổi này. Còn tôi, dễ gì…Nên cho tôi viết tiếp thôi em nhé.

Trong ba năm giữa đất trời quê nội, mẹ tôi đã thương yêu và lo lắng cho tôi như người con chính bà sinh ra. Tôi thường trái gió trở trời vào mùa đông. Mẹ thường tìm những lá tre, lá sả, lá tía tô, lá chanh, lá long não, rễ cây cứt lợn, tỏi, địa linh tươi… để đun sôi một nồi nước xông. Rồi cạo gió với giác bạc thiệt. Rồi thoa dầu Nhị Thiên Đường. Rồi bắt uống Tiêu Ban Lộ.. tùy theo nặng nhẹ mẹ chăm sóc, lo lắng. Biết tôi thích ngọt, không buổi chợ nào mẹ quên mang về phong bánh in, gói kẹo ú, hoặc một nắm bắp ngào đường. Mười tuổi đầu, tôi còn tồng ngồng đứng bên góc sân gạch nhà ngang, cho mẹ dội từng gáo nước. Mẹ không cho tôi chăn vịt sợ đạp phải miểng chai, gai nhọn. Đàn vịt trên mươi con vẫn để cho chúng tự do chạy ra đồng, rồi chạy về, có hôm đàn vịt ham vui, chiều về chuồng nhà khác, mẹ phải đi tìm. Mẹ không để tôi một mình đi coi thợ gặt, giữ lúa. Chẳng phải vì tôi ham chơi, ham đuổi bắt những con châu chấu mỡ. Ruộng nhà tôi hầu hết gần sông, mẹ không an tâm, khi anh chị trong nhà đã có người chết đuối. Và mẹ cũng không quên dành cho tôi một số công việc, mà chắc là mẹ cho là quan trọng, thích hợp. Đó là chạng vạng nào cũng phải lo thắp đèn và thắp hương trên các bàn thờ. Ngững ngày Tết, giỗ, tôi phải lo thay nuớc cúng, cắm hoa, chùi độc bình, lư hương, và có bổn phận chạy đi mời bà con đến ăn giỗ. Một công việc không kém phần quan trọng của tôi là thỉnh thoảng đọc cho mẹ nghe những chuyện tích cổ bằng văn vần, mà mẹ đã cất giữ từ lâu. Đó có thể là chuyện Nàng Nhái Kiểng Tiên, Chuyện Lão Tượng Tiên Bửu. Chuyện Thạch Sanh Lý Thông. Chuyện Thoại Khanh Châu Tuấn. Chuyện Phạm Công Cúc Hoa. Chuyện Trê Cóc , chuyện Kiều Nguyệt Nga, chuyện Trịnh Hâm Bùi Kiệm…vân vân. Mẹ biết chữ Quốc ngữ, nhưng mẹ không muốn xem. Mẹ thích nghe đọc hơn. Chẳng biết cái giọng ngỗng đực và đặc sệt Quảng Nam của tôi có gì xuất sắc? Không chừng nó rất đặc biệt, không thua kém giọng cô Dạ Lan sau này, trên đài phát thanh quân đội Việt Nam Cộng Hòa, đêm đêm đã làm say mê biết bao nhiêu anh hùng tiền tuyến lẫn hậu phương. Cô Dạ Lan là dân xứ Quảng chính hiệu, đã một thời ngồi học trong trường Phan Châu Trinh, Đà Nẵng.
Giọng nói Quảng Nam, là một nguồn âm thanh được cả ba miền nước Việt công nhận là giàu trọng lượng. Nhưng trong cuốn Quảng Nam Trong Lịch Sử, tập hai, của nhà sử học Trần Gia Phụng có cho biết:
“ Khoảng sau năm 1995, trong nước Việt Nam có cuộc bầu chọn 10 ca sĩ hay nhất nước, thì trong đó, những ca sĩ gốc Quảng Nam chiếm 7 người, và đặc biệt, ca sĩ Ánh Tuyết (gốc Hội An) đã được nhạc sĩ Văn Cao (1923-1995) nhận làm con nuôi, vì theo Văn Cao, trong suốt cuộc đời hoạt động văn nghệ của ông, ông nhận thấy Ánh Tuyết là người trình diễn rõ ràng và tuyệt vời nhất những bài ca của ông, nhất là bài Thiên Thai” (trang 27).

Đã lỡ dông dài, tôi xin lạc đề luôn: Một giọng hát khác của Quảng Nam tại Việt Nam trong những năm gần đây cũng tạo được nhiều tiếng vang là ca sĩ Mỹ Tâm. Tên thật Phan Thị Mỹ Tâm, sinh ngày 16-01-1981 tại Xuân Hà, Thanh Khê, Đà Nẵng. Khán thính giả gọi cô thủ khoa thanh nhạc của nhạc viện thành phố HCM (1997-2001) này là “ca sĩ tóc nâu môi trầm”. Cô được rất nhiều giải thưởng ca nhạc, trong đó có cả giải Lá Phong của tòa đại sứ Canada tại Sài Gòn năm 2004 và là người đầu tiên đại diện chính thức cho lãnh sứ quán Canada như một vị sứ thần thiện chí. Nhà nước Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tính theo lợi tức thu được từ tiếng hát, để đánh thuế. Mỹ Tâm là ca sĩ đứng đầu chịu số thuế cao nhất cả nước, vượt gần gấp đôi người thứ hai.
Qua những dẫn chứng trên, giọng Quảng Nam như vậy không có gì đáng ngại. Mặc dù không thiếu những người trình diễn hài hước mang ra làm trò cười cho nhiều người vô tư. Riêng giọng của tôi, từ nhỏ đã được mẹ tôi tín nhiệm, ấy thế mà sau này, tôi vẫn ngại ngùng khi phải nói trước nhiều người, chưa đủ gọi là đám đông. Sự e ngại đã trở thành cái tật. Đây là một khuyết điểm lớn của tôi.

Ngày tháng qua mau. Mới về làng đã ăn được ba cái Tết. Và cái Tết nào cũng giàu ấn tượng đẹp. Ngay năm đầu tiên, mẹ đã sắm cho tôi nguyên bộ quần áo tây, màu xanh lá cây theo sở thích của tôi. Màu xanh của rừng núi chưa bỏ cậu bé. Việc may một bộ đồ mới ở nhà quê cũng không đơn giản. Trước tiên, mẹ tôi chọn ông thợ, nhà ở giáp làng Cổ Mân. Theo mẹ, tôi lội qua nhiều bờ ruộng mới đến được mái hiên đặt máy may của một ông thợ trung niên. Ông thợ từ chối vì đã có nhiều hàng đặt trước, ông liệu không thanh toán kịp. Mẹ tôi phải dẫn tôi qua chợ Miếu Bông. Ở đây có nhiều gian hàng may, nhưng mẹ tôi đánh giá họ thường may dối. Ghé qua nhiều nơi dạm hỏi, cuối cùng tôi cũng được đứng yên cho một bác thợ đo ly tấc. Năm đó với áo bỏ trong quần, nịt nhựa trong suốt vòng ngang bụng, giày sandale quai rọ và mũ béret, tôi lớn hẳn lên khi đứng chống nạnh ngó mông đầu ngõ. Mẹ tôi vốn rất trầm lặng nhưng lần đó đã biết mỉm cười, gọi giật thằng con vào, không phải vì sợ nó dang nắng mà sợ…người ta xấu miệng trầm trồ.
Ngoài cái thú nghe đọc truyện thơ cổ, mẹ tôi còn một cái vui nhỏ nữa. Bà biết uống rượu, khác hẳn với ba tôi. Gần như không có buổi chạng vạng nào, bà không ra cái quán nhỏ của bác Hội Du gái. Một cái ly thủy tinh con con, lượng rượu lưng lưng miệng, là món quà cuối ngày giúp mẹ tôi xóa hết những mệt mỏi. Bà tuyệt đối giữ đúng tiêu chuẩn này. Có lẽ nhờ vậy, tôi chưa hề thấy mẹ tôi ngã bệnh bao giờ.
Trong những ngày Tết, mẹ tôi cũng thường thích thú với những ván bài Trùng cùng đám con cháu. Những con bài bằng giấy, bề ngang chừng hai ngón tay, có những tên gọi rất ngộ nghĩnh như Học Trò, Nhì Nghèo, Nọc Thược, Tam Quăn, Tứ Gióng, Liễu, Âm Ầm…mà hình tượng được vẽ một cách đơn giản, nhưng không thiếu nghệ thuật, vẫn in đậm nét trong trí nhớ của tôi. Trong suốt thời gian ở bên mẹ, tôi cũng chưa hề bị bà la rầy lần nào. Sự im lặng của mẹ là những lằn roi, một đôi lần mẹ dành cho tôi. Mẹ tôi lành như thế, nhưng về sau, khi tôi đã rời làng, có một lần tôi đã to tiếng, rất to tiếng với mẹ, chỉ vì xung đột cùng đứa cháu nội đích tôn của bà. Dễ chừng có vài tháng sau tôi mới ghé về thăm bà và không hề xin lỗi tiếng nào. Đây không phải là bướng bỉnh, cố chấp mà chỉ là không tập được, chưa tập được thói quen xin lỗi. Mẹ ơi, lời xin lỗi của con chẳng bao giờ có nữa, nhưng hy vọng mẹ đã nhận ra từ lâu lòng con. Ngày con ra đi, con đã cùng Lý về thăm mẹ. Mẹ còn khoẻ lắm, còn cả nước mắt. Nhưng sao chỉ một tuần sau, mẹ không ráng thêm ít tháng nữa, để trèo qua cái tuổi 90 ? .
Sau Một Lần Về Liêm Lạc nào đó, tôi đã viết:

Mẹ ngồi im như ngủ quên
gió lùa cửa mở, ngó lên: con về
nụ cười phá vỡ cơn mê
mặt con chợt sáng bốn bề phòng không

đưa tay mẹ ngỡ như bồng
thằng con hư của chờ mong đã về
lặng nghe tay mẹ vân vê
ấm dần thớ thịt rong rêu bụi đường

đi ngang đi dọc trong vườn
đi quanh sân gạch, rờ tường, đánh hơi
nơi nào tôi cũng gặp tôi
nơi nào cũng gặp đủ người thân yêu
nơi đây cha đọc truyện Kiều
nơi đây em dán con diều lá sen
nơi tôi nằm đợi đòn lằn
roi tre để bỏ tật quen vắng nhà
ơ kìa, phân vịt, phân gà
ơ kìa, vựa trấu, cây cà, cây chanh…
lượm lên được miếng mảnh sành
nhìn ra thấy chú vàng anh năm nào

mẹ sờ thử phải chiêm bao
thằng con giang bạt kỳ hồ đấy thôi
xếp bằng trên phản tôi ngồi
nhìn mẹ móm mém nhai trầu mà thương
(Trôi Sông)

Em yêu dấu, những ngày tháng tiếp theo tại quê nội của tôi rất vui vẻ. Tôi đã chóng làm bạn với đám trẻ con hàng xóm. Những thằng Tín Anh, Tín Em. Những thằng Triển, thằng Lo…thằng nào cũng to con lớn tuổi hơn tôi, nhưng đều gọi tôi bằng anh. Chẳng phải chúng nể sợ gì tôi mà vì vai vế ông già tôi thuộc chi nhứt nhì trong làng.

Một hôm tôi đang chơi đá kiện với anh em thằng Tín, thì có tin Tây đi ráp. Dù chỉ là thằng bé mười tuổi, tôi cũng hết hồn, lật đật trèo tường rào trở về nhà. Chẳng bao lâu sau, lính Tây ập vào nhà tôi với súng đạn, ba lô … Đây là lần đầu tiên tôi thấy Tây, cả đen lẫn trắng. Tôi im thin thít ngồi một góc phòng trong khi ba tôi nói chuyện rất lâu với một thằng mang súng lục. Sau này tôi mới biết, nhà ba tôi là địa điểm đóng quân của ban chỉ huy, trong những lần quân Pháp đi lùng tại làng Liêm Lạc. Nhà của chúng tôi chẳng bao giờ bị lục soát. Do đó số lúa dự trữ của gia đình, cất giấu ngay trong ruột bàn thờ, được xây rất to giữa gian nhà trên không bao giờ bị phát hiện, Tôi nghĩ, chẳng qua những thằng quan Tây có ý giả lơ cho.
Lần đầu tiên chạm mặt với lính Pháp, ba tôi rất bình tĩnh. Mẹ tôi đã lo cho ông đầy đủ giấy tờ cần thiết. Ông không còn là người từ chiến khu về. Ông là người vừa ở Tourane hồi hương vì sức khoẻ. Chú Mười Thiều, một người bà con thúc bá, làm mật thám cho Pháp, đã lo cho ba tôi cái giấy tùy thân. Một tá điền cũ của gia đình, hiện giữ chức lý trưởng, đã xác nhận sự nhập cư đúng phép của ba tôi. Thêm vào đó với vốn liếng Pháp ngữ, ba tôi sớm gây được cảm tình của người Pháp. Chẳng mấy tuần sau, ông xin được giấy phép mở trường dạy học tư ngay tại gia.

Ở với quê nội chừng mười ngày, chị Kim Anh một hai đòi trở lên Tiên Phước. Ba tôi phải nhờ bác Hội Du, một người anh em thúc bá khác của ông, là một cán bộ Việt Minh, dẫn chị Kim Anh về với má và em Hân.
Hai ngày sau, khi chị tôi về trở lại với má tôi, ba tôi bắt đầu dạy học. Và trong vòng nửa tháng, tổng số học sinh có mặt suốt ngày tại nhà chúng tôi hơn một trăm em, chia làm hai buổi học. Học sinh không cùng tuổi, không cùng trình độ. Từ lớp mới bắt đầu vỡ lòng a, b, c đến lớp đã biết làm toán pháp, toán đố. Chúng được cha mẹ từ các làng Miêu Bông, Quá Giáng, Cổ Mân dẫn đến.Trong số này có đứa lai Pháp như thằng Robert, chị em Con Đỏ, Con Đen. Dĩ nhiên con em trong thôn quê nội tôi là chủ yếu. Học phí có đứa trả bằng tiền, có đứa trả bằng thóc gạo, hoặc cả cá tôm và mọi thứ dùng được cho cuộc sống con người.
Tôi trở thành học sinh lớp cao nhất trong cái trường của ba tôi. Môn học chính của tôi lúc bấy giờ là Pháp văn mà chủ yếu là vocabulaire. Tôi thường học ngữ vựng Pháp với giọng ê a như học một bài học thuộc lòng. Lông (long) dài, Cua (court) ngắn, Lạt (large) rộng…cứ thế vang lên một góc phòng. Điều thú vị nhất là ngoài chuyện học, tôi còn phụ ba tôi làm một ông thầy con con. Viết chữ cho bọn nhỏ tập đồ, hay ra những bài toán cộng trừ nhân chia đơn giản là nghề của tôi. Với môn toán pháp, để khi chấm đỡ phải tính toán lại, trong toán cộng tôi thường ra bài làm với 5 hàng số ở hàng dọc. Hàng ngang không nhất thiết. Ba hàng dọc đầu, muốn dùng con số nào cũng được. Nhưng hai hàng dọc còn lại, các con số phải chọn cho phù hợp với một nguyên tắc. Cụ thể con số hàng thứ tư khi cộng với con số ở hàng thứ hai phải thành con số 9. Con số hàng thứ 5 khi cộng với con số hàng thứ ba cũng phải là số 9. Ví dụ hàng ngang số ở hàng số hai gồm: 4,3,2,8 thì ở hàng tư phải là 5,6,7,1. Tương tự, hàng thứ ba nếu là: 6,4,0,5 thì hàng số năm phải là 3,5,9,4. Với cách này, số thành biết được dễ dàng, như sau: trừ 2 ở con số cuối cùng tại hàng đầu; đem con số 2 mới trừ đặt trước những con số hàng ngang đầu; tất cả những con số còn lại được giữ nguyên. Ví dụ hàng đầu bài toán, phù hợp với những con số đã dẫn trên là: 3564. Số thành sẽ có chính xác: 23562. Mẹo vặt này, tôi học từ ba tôi.

Mặc dù làm ông thầy không danh xưng, uy tín tôi cũng trở nên ngon lành. Ngoài mấy đàn em ruột như thằng Tiên, thằng Chưởng (con chú Tham), con Thương, thằng Thiệu, thằng Tín…tôi còn có một đội ngũ đàn em thật hùng hậu đến mấy mươi đứa. Bọn nhỏ thường mang đến cho tôi nhiều quà. Đa số là các loại chim chúng bắt được, như sáo, nhồng, cà cưỡng, chào mào… Cá thì nhiều lắm, như cá rô, cá trầu, cá diếp, cá trê, cá ngạnh…tôi bỏ cả vào một cái hồ xi mâng lớn, có đến sáu chân. Hồ này đã có từ lâu, được đặt trước một bình phong cũng bằng xi măng, gần hai lối tam cấp để bước lên véranda. Cá lia thia ở quê tôi cũng có nhưng rất ít, tôi chỉ được bọn nhỏ cho vài con. Và vì nuôi trong một cái chai chật hẹp, nên cá rất mau chết. Nhắc về cá tôi xin nói thêm: do ảnh hưởng của ba tôi không ăn được cá loại cá nước ngọt, nên mẹ tôi không bao giờ mua. Những thứ cá hay ăn chỉ quanh quẩn: cá Chuồn chiên, cá Nục hấp, cá Cơm kho, cá Thu sốt cà chua. Cá Ngừ chỉ thỉnh thoảng ăn với bún, vì mẹ cho rằng loại cá này độc, không nên ăn nhiều. Lâu lâu bọn nhỏ cũng mang cho tôi bánh Thuẫn, bánh Khô, bánh Nổ hay một nắm Xôi Gấc đỏ… nhưng phải ăn lén lút, mẹ tôi cấm. Bà sợ đám nhỏ lấy các món ăn này từ các gói bẹ chuối, mà người ta cúng xong, treo ở bờ bụi cho cô hồn, ăn vào tâm trí sẽ u ám, và có thể mất mạng.

Cũng từ đám bạn mới, tôi có thêm nhiều môn chơi thú vị. Đá bóng là môn tôi thích nhất. Nếu những trái bóng bằng cao su bị bể, chưa có đủ tiền mua lại, chúng tôi dùng trái bòng để đá, hoặc khéo léo vo tròn một nhúm rơm, rồi lấy giây bẹ chuối khô bện lại thay quả bóng. Banh tennis cũng thường được chúng tôi xử dụng. Sân chơi thường là sân gạch nhà tôi. Chính trên mặt sân này, tôi nhiều lần bị rách da, sứt móng. Sau đá bóng là đá kiện. Kiện thường được làm bởi hai đồng xu cùng một rẻo nhỏ vải, hoặc với chiếc lông gà. Môn này tôi thường vô địch, có thể đá vài ba trăm cái liên tiếp. Tôi không có địch thủ, nên mỗi lần chơi, tôi thường phải chấp hai ba đứa ở cùng một phe. U mọi cũng là môn tôi hay chơi, nhất là những đêm sáng trăng. Nhưng tôi kém về môn này, rất thường bị bắt làm tù binh. Chơi trốn tìm, đánh cờ gánh, đánh đáo xu, nhảy giây, đi tàu bay…tôi đều chơi tuốt. Một hôm, thằng Vinh bên chợ Miêu Bông mang cho tôi một cái ná bắn chim. Đây là món đồ chơi tôi thích đã từ lâu. Cái ná đã rủ tôi bước qua một giai đoạn có vẻ khôn lớn hơn.

Cùng với cái ná, tôi đã mở rộng phạm vi đi lại và quan sát làng quê nội. Khởi đầu là những mục tiêu gần mà tôi chưa đặt chân tới: vườn chuối sau lưng nhà ông nội, vườn mít nhà Bồi, những bờ tre vây quanh nhà bác Cửu Bốn… Tôi lần theo tiếng hót của Chào Mào, Chích Chòe…cũng chẳng bỏ qua những tiếng kêu không có gì hấp dẫn của Chất Quạch, Chèo Bẻo…Tôi biết thêm nhiều xóm trong làng với những tên gọi mộc mạc: Xóm Lưới, Xóm Đùng, Xóm Trong…Tôi tạt qua miếu, tôi ghé vào đình thản nhiên, lặng lẽ. Miếu nhỏ, tôi thường vui tay sờ cặp mắt sư tử bằng mảnh sành. Một đôi lần tôi cũng tinh nghịch lấy than, vẽ thêm vài sợi râu trên cái miệng rộng hoác, phơi cả răng của con sư tử. Đình làng tôi nằm bên một con đường không mấy rộng. Sân đình cũng khá hẹp. Tấm bình phong xây bằng gạch, đứng hàng ngang với hàng cây keo thay hàng rào. Tôi đã bước vào hiên đình một đôi lần. Trên những bức tường, có một số chữ viết cùng hình vẽ tục bằng than của đám nhỏ trong làng. Cây đa làng không đứng trong sân đình. Nó đứng cách xa vài ba trăm thước, trên một vạt đất trống rất rộng. Với nhiều rễ phụ, quay quần bên gốc chính, tạo cho cây đa vừa có thế đứng vững chắc vừa rất nghệ thuật. Nhánh cành tỏa rộng như một cái vòng tròn. Lá không to và sưa. Những con chim về đây hình như không để tìm mồi. Chúng cần một chỗ đứng hót cho thật thoải mái. Chúng cần một chỗ đứng rỉa lông. Có lần tôi bắt gặp một cặp Sáo Sậu đang đạp mái. Trời trong, nắng tốt, cành nhánh nào cũng có hương mặt trời, tỏa tận xuống những ông Bình Vôi sứt miệng, những ông Táo mẻ đầu nằm ngái ngủ dưới gốc với nhiều thứ lỉnh kỉnh khác.
Cùng với cái ná, tôi lặng lẽ xuống đến giáp ranh làng Cổ Mân. Tôi đi khắp xóm, khắp làng và sớm trở thành một tay sát điểu có hạng trong làng. Qua mặt được tôi may ra chỉ có thằng Triển, lớn hơn tôi vài ba tuổi.
Nhưng chẳng phải lúc nào tôi cũng vui vẻ, ham chơi. Vào ba, bảy buổi chiều, tôi một mình ra ngồi bên gốc duối, nằm gần cổng tre, nhìn về hướng làng Mân Quang. Tôi thấy đường chân trời, tôi thấy mây, tôi thấy cả những con chim bay buồn bã. Những lúc đó, tôi nhớ má, em Hân, chị Anh và cả đến những con gà tự túc, con ve, con đỉa, con vắt…ngày nào thân thiết trên núi đồi. Chân trời xanh và sâu, tôi đã biết thèm được bay như những con chim. Tôi lâng lâng cảm thấy mình đang bay xa như những đám mây trôi nhàn nhã. Trong không gian bát ngát lặng im của đồng quê, tôi chợt nghe những tiếng gọi, không rõ ràng, kỳ bí. Tôi dụi mắt.

Lính tây vẫn qua bố ráp làng tôi mỗi tháng vài lần. Một bữa, thằng Tín em đang giữ vịt ở gần vườn nhà anh bảy Quán. Hắn cầm ngang cây sào dài quơ qua, quơ lại, tức thì bị Tây bắt vì nghi hắn ra giấu cho du kích. Tín Em bị dẫn qua đồn Quá Giáng một buổi. Thật ra hôm đó có mặt cán bộ Việt Minh thật. Đó là anh sáu Cấn. Anh đang ngồi nói chuyện với ba tôi thì có tin Tây qua. Không còn kịp chạy xuống Đùng, qua sông Cái, anh Cấn đã theo máng xối đúc bằng xi măng, trèo lên mái nhà tôi và nằm im trên đó cho đến khi Tây rút. Anh Cấn không phải chỉ về làng hoạt động một lần. Anh về luôn và cũng thường ghé nhà tôi vào ban đêm. Nhiều lần tôi còn thức, tò mò ngồi bên ba tôi, nghe anh nói chuyện. Một hôm anh cao hứng đọc cho tôi chép mấy bài thơ, tôi học thuộc. Giờ vẫn còn nhớ đại khái, nhưng không rõ tác giả là ai:

Mấy mươi bầu gạo
kĩu kịt bên vai
mồ hôi từng giọt
lác đác đường dài
gánh đi đi mãi đi hoài
đù đưa đá nhảy
miệt mài khe hoa
truông dài núi rậm đường xa
sườn nghiêng lá kết mái nhà chênh vênh….

Bài thơ còn dài, ba tôi có xem và khen các câu đù đưa đá nhảy, miệt mài khe hoa cùng câu sườn nghiêng lá kết mái nhà chênh vênh. Theo ông, hai câu đầu nói lên cái động tác của một người gánh nặng đi trên đường rừng, đang từ tảng đá này, nhảy qua tảng đá khác làm hai bầu gạo đong đưa. Thơ như vậy là có hình ảnh sống động. Câu sườn nghiêng lá kết…tả cái cảnh hùng vĩ của núi rừng rất chính xác. Sau cái đêm tình cờ giảng thơ đó, ba tôi nảy ra cái ý dạy tôi làm thơ. Và tôi bắt đầu những bài tập làm văn vần của mình từ đề tài đầu tiên: viết thư thăm bạn, với các câu ngô nghê, đọc lại không thể không mỉm cười:

trước hiên gió mát ngồi chơi
sực nhớ đến bạn ruột thời quặn đau
liền giấy bút lấy ra mau
nhớ thương một bức trước sau tỏ tường…
Với những câu vụng về như vậy, không ngờ lại cõng được tôi đi miết cùng thơ đến bây giờ.

Em yêu dấu, tôi thấy cũng cần chia với em một ít kỷ niệm vui vui. Những kỷ niệm này như một dấu hiệu báo trước những vớ vẩn của tôi sau này. Em đừng cười đấy nhé.
Làng tôi nằm giữa hai con sông. Con sông lớn có tên sông Cái, là biên giới giữa làng tôi và làng Mân Quang. Con sông chảy ra Tourane (Đà Nẵng) để tìm về biển. Với con sông này tôi không có nhiều kỷ niệm, ngoài những nỗi lo lắng khi phải qua đò.

Dòng sông thứ hai, là biên giới giữa làng tôi và làng Miêu
Bông. Đây là một con sông nhỏ với kích thước bề ngang không đồng đều. Có chỗ hẹp như con đường nhựa, có chỗ phình ra gấp hai, gấp ba. Hai bên bờ sông dày đặc hoa cỏ dại. Dọc theo chiều dài, không xa nhau bao nhiêu, có đến ba cửa bến. Bến đò, bến lội và bến tắm. Bến đò và bến lội chỉ cách nhau chừng một trăm thước, nhưng độ sâu cạn chênh lệch nhau rất xa. Ngay ở bến lội cũng phải tùy thuộc lúc nước ròng mới có thể qua sông. Tuy chỉ một lần về, nhưng coi như em đã nhìn qua mặt mũi hai cái bến này.
Bến tắm nằm gần bến đò hơn, nhưng khoảng cách giữa hai bến cũng khá xa. Hình như tên bến tắm chỉ thành danh trong đám trẻ nhỏ. Dòng sông có vẻ như đi lạc sâu vào ruộng lúa trước khi quẹo trở ra. Điểm lạc này tạo thành một mặt hồ, với lưu lượng êm đềm. Lòng cạn. Đám trẻ nhỏ đã tìm ra nơi này rồi thường xuyên lên xuống để bơi lội. Cỏ mòn theo bước chân thành một cửa bến, không mấy khi có dấu chân người lớn, chẳng hiểu vì sao.
Tôi đã nhiều lần lén mẹ theo đám đàn em học trò đến đây vọc nước. Chuyện cấm kỵ đụng chạm đến sông hồ luôn luôn gây cho tôi cảm giác lo sợ và tôi đã vĩnh viễn trở thành một kẻ không biết bơi. Những lần gọi là tắm sông, tôi chỉ dám đi ra chỗ mặt nước vừa chấm lỗ rún. Rồi cứ đứng như vậy dùng tay khoát nước đùa giỡn. Cũng một đôi lúc bạo dạn, tôi bịt mũi và hụp mạnh đầu xuống nước trong một tích tắc. Những thằng bạn nhỏ của tôi thì bơi ra xa. Nhưng tôi không cô đơn. Bởi lần nào tôi tắm sông cũng có con Đỏ và con Đen tắm cùng. Đỏ, Đen là hai chị ruột con một me tây, trú ngụ gần bên đồn Quá Giáng. Đỏ, Đen có trong người dòng máu da trắng. Mẹ chúng quen với gia đình nhà thằng Vinh, nên gởi chúng theo Vinh qua học bên nhà ba tôi. Tôi và hai con bé chơi với nhau rất tự nhiên. Đã nhiều lần tồng ngồng bên nhau lên xuống bãi tắm, hoặc cùng ngâm mình dưới nước. Một hôm không hiểu vì lý do gì, khi từ mặt nước sâu ngang rún, lần đi vào bờ, cả hai chị em, đều xếp úp hai bàn tay, khum khum che cái gì dưới lỗ rún. Tôi tình cờ nhìn qua, rồi lại nhìn không tình cờ, cứ lặp đi lặp lại như vậy, nhưng mắt ra vẻ nghiêng nghiêng về đâu đâu. Từ đó chúng tôi đều không bỏ cái tật riêng của mình. Ngoài tắm sông, những buổi học chiều có mưa dông, chúng tôi đều được ba tôi cho phép tắm mưa. Đỏ và Đen lại vẫn theo bên tôi. Bốn bàn tay của hai chị em vẫn hờ hững khum khum. Lạ một điều, nhiều đêm ngủ thoáng giật mình cứ tưởng như mình đang tắm. Những giọt nước mưa và những vốc nước sông từ cái bến xa xưa mãi đến năm 1997 mới rả rích lại trong Cỏ Hoa Gối Đầu:

Nhớ xưa, hồi mới lên mười
chiều chiều mưa tạt hiên mời tắm mưa
chạy ra ngõ rạp tàu dừa
vuốt đầu, vuốt mặt, thì vừa gặp em
tóc tơ đã ướt chềnh nhềm
hai bàn tay bụm cái thềm tinh hoa
em lên sáu, bảy, thôi mà
sao hai con mắt tôi đà xốn xang
mười năm sau trở về làng
mưa, chiều, tôi núp dưới hàng keo xanh
em không tắm nữa, đã đành
cõi xưa, nhìn trộm, để dành cho ai ?

Em yêu dấu, vơ vẩn một chút cho vui, giờ trở lại kỷ niệm cùng em. Hẳn em còn nhớ ngày em ghé thăm quê nội tôi, em đã đứng rất lâu bên ba bụi bông trang, trồng sát nhau, thay cho tấm bình phong dựng trước sân nhà. Cây bông trang lá nhiều và rậm. Hoa gồm nhiều cánh mỏng, nhưng không đẹp như nhiều loại hoa khác. Không rõ vì sao ba tôi đã chọn chúng để làm dàn chào đón khách. Ba cây bông trang này có tuổi thọ ngang với tuổi tôi, ngang với ngôi nhà. Em nhìn lên đi, hàng chữ số 1941, kỷ niệm năm xây cất vẫn còn đứng chỉnh tề trên nóc nhà đó. Thời gian đi qua, chỉ để lại những dấu chân kỷ niệm.Giây phút tôi cùng em đứng bên bụi hoa cũng đã tức thì trở thành kỷ niệm, khi em thả bước trên sân gạch, im nghe tôi tiếp tục vô duyên .

Ngôi nhà của ba tôi có ma. Những con ma thường trú trên plafond. Đêm nào cũng chơi trò cút bắt, đuổi nhau chạy rần rần, làm tôi ớn lạnh nổi da gà. Những con ma ngồi bó gối nhớ đời, xếp dài hàng dọc trên đầu tường rào . Tôi và đám trẻ con trong làng đã tháo mồ hôi mà rình xem vào những đêm trăng. Đám trẻ con đêm nào cũng đến ngủ nhờ, để tránh pháo đạn từ đồn Quá Giáng, nhiều khi đi lạc tọa độ. Một tọa độ vô cùng vu vơ. Đã một vài lần ruộng làng tôi trở thành một toạ độ như thế. Trong đám trẻ con ấy, tôi nhớ nhất là Lữ, chuyên viên đái dầm, và Thoại móm, anh của Lữ. Cả hai nhỏ tuổi hơn tôi, nhưng tôi phải gọi là anh, vì con ông bác thúc bá. Bác Hội Du.

Rõ ràng chuyện kể chẳng ăn nhập gì đến cái tình đã lấp ló trong tôi. Em hồn nhiên hay chỉ vờ hồn nhiên để chúng ta càng ngày càng xa lạ. Có cả chục bài thơ tôi đã chạy nhật trình, để khôn khéo tỏ tình mà chắc gì em biết. Nhưng cũng xin cảm ơn em đã về đây một lần, đã cùng tôi bước những bước vu vơ. Tôi bước trước, em bước sau, có khi cách nhau đến vài bước. Em mắc cở với giòng thuỷ lợi ? Em mắc cở với dấu chân trâu ? Con chiền chiện vừa bay vừa hót vừa ngó em. Trời xanh. man mác. Con chào mào vụt bay ra, khi chúng ta đi ngang một gốc mít. Cuộc sống thanh bình trải theo những ngọn khói rơm, bịn rịn không dám bay xa. Chúng ta vừa bước qua một vạt đất ướt. Tôi chỉ tay. Những đám ruộng lúa ba trăng trước mặt, một phần rất nhỏ, thuộc sở hữu của riêng tôi. Những tờ trích lục dày như những tấm bìa, đựng đầy chữ nho, chữ Pháp lẫn quốc ngữ. Tên tôi nằm trong đó, im lặng miết cho đến ngày bị cưỡng đoạt. Tôi bứng tôi ra khỏi những tờ trích lục dễ dàng. Nhưng dễ gì bứng khỏi một mùi thơm, mà một người làm thơ đàn anh đã gọi là hương đồng phấn nội. Riêng tôi quá nghèo chất liệu về một nơi mà ông bà nội tôi dựng đời, dựng nghiệp. Tìm kiếm mãi trong lòng vẫn không có gì khác hơn những hình ảnh chung chung. Những con cóc từ một hốc tường nhảy ra sân gạch vào những khi trời chớm mưa. Những con bù rấy ướt mềm sương sớm. Những bè chuối thả chơi trong mùa mưa lụt. Những cái lờ, cái nơm đầu hè nhà hàng xóm… Và đâu đó có tiếng heo trẫn mở, có tiếng gà cục tác, có tiếng ru em dài ngoằng những than thở, có tiếng chửi nhau độc địa, nhưng ấm áp thân thiết vô cùng. Tất cả, giờ đã xa. Kể cả em, người con gái đã dạy cho tôi những bài học vỡ lòng về một thứ tình tuyệt vời. Em đã đọc thấy chưa những câu phách lối, ngậm ngùi này:

em đã về đây thăm một bận
tưởng rằng tiếp tục đến ngàn sau
dè đâu sân gạch và cây mít
không giữ được giùm ta với nhau

đứng dựa gốc cau nhìn mây nổi
nhìn đàn chột dột gió đu đưa
cau đang mùa trổ từng cụm nhỏ
hương mỏng mênh mông trắng gió đùa

tôi chạnh nhớ em ? không chắc lắm
như tuồng lòng có chút nao nao
chiếc răng khểnh ấy sao mà bén
cắn nát lòng tôi tự thuở nào

muốn khóc đấy ư sao chẳng khóc
tuyệt vời thay nước mắt con trai !
vô hình dung giọt theo tim đập
trầm nhẹ, sâu hơn tiếng thở dài

em gả về mô rồi Đại Lộc ?
không thèm khăn gói đến Hòa Vang
tôi công tử bột làng Liêm Lạc,
chẳng nhớ mô nghe, chỉ bàng hoàng
(CƠĐĐTT).

Em yêu dấu, em có biết, năm 2002, tôi có về thăm quê nội tôi. Vùng đất cội nguồn tôi bây giờ về mặt hành chánh, đã sát nhập vào thành phố Đà Nẵng. Thịt da vẫn ngần đó, nhưng có vẻ tươi mát hơn chút đỉnh. Hai dòng sông ở hai bên đầu làng vẫn còn chảy đều. Nhưng con đò qua Miêu Bông không còn nữa. Cô Dung lái đò, tên đẹp thay người, một đời lận đận đã khép lại bình an. Cây cầu trên bến lội ngày xưa vẫn vóc dáng cũ, nhưng cùng với con đường được mở rộng, có vẻ như mới ra. Những cây trụ khẳng khiu, đỡ không mấy thẳng những đường dây điện.

Tôi về làng nội với hai bàn tay rỗng. Quần áo lôi thôi vì trời quá nóng. Chân mang giày mòn gót, đầu đội mũ bạc màu, chẳng phải cố tình bi thảm hoá. Tôi bước lên mặt sân. Tôi bước lên thềm nhà. Tôi bước qua ngưỡng cửa. Ném cái mũ lên bàn. Muốn tháo ngay đôi giày nhưng khựng lại. Trời tháng tám, tưng bừng nắng, mà tôi cứ ngỡ như đang mưa dông. Tôi nhìn ra chỗ mình thường tắm. Giờ này tôi mới thấy, bốn bức tường rào đã ngã đi đâu. Một vài hàng hoa thay chỗ đang nở đẹp, nhưng lỏng lẻo làm sao. Tôi thắp hương lên bàn thờ cha mẹ. Nhìn những nét mặt thân thuộc, cảm thấy như gặp những hơi thở.
Hình ảnh chân dung trên giấy đâu có gì khác nhau. Những tấm hình này đâu có xa tôi trong những tháng năm lưu lạc. Nhưng rõ ràng có một chút gì đó, thân mật hơn, ấm áp hơn. Mùi thân tình từ nền nhà xông lên, từ mái ngói, từ plafond toả xuống, từ cửa sổ, từ vách tường bung ra, đậm đặc mến yêu. Dù không áo thụng khăn đóng, cà vạt veston, tôi cũng được bà con, thân thuộc tôi tiếp đón chân tình. Những anh chị em ruột thịt, đang ở bên tôi. Anh Lê Ngọc Hiển, chị Lê Thị Kim Anh, các em Lê Hoàng, Lê Quốc Hùng, Lê Phước Hưng cùng đông đảo các cháu. Tất cả đều nhắc chừng tôi nhiều điều mà tôi vẫn nhớ rất rõ.

Nhà ông nội tôi đã sáng sủa hơn xưa do có tu bổ để trở thành nhà thờ Lê Học. Tôi thắp trên mỗi bàn thờ một cây hương. Chợt thẹn với điều kỳ vọng của chú Diên về chuyện gia phả. Trời nóng như lửa đốt. Tôi mở nút áo, phơi trần cái bụng thiếu thẩm mỹ, hối hả cùng mọi người thân ra thăm mộ.

Sống cái nhà, chết cái mồ. Vấn đề mồ mả này từng làm tôi một thời đau đầu, mất bình tĩnh. Ngày đó, sau 29 tháng 3 năm 1975. Bác Hội Du, cán bộ Cộng sản, còn sống trở về làng. Con bác, anh Thoại móm, từng sang học bên “Liên Xô Vĩ Đại” cũng cùng về. Chẳng biết vì muốn lập công đầu hay không, mà bác Du đề ngay ra chuyện quy hoạch mồ mả và cho thực hiện sớm hơn những địa phương khác. Ba mẹ tôi bấy giờ hãy còn sống. Người trực tiếp sinh ra tôi thì đã nằm dưới mồ yên. Không thể làm gì hơn, tôi thuê người bốc mộ má, hoả táng một ít xương còn sót và mang tro về thành phố Đà Nẵng, không xin ý kiến của ba tôi. Một thời gian sau, nhờ người quen, tôi xin đất cải táng người mẹ đẻ mình trên đồi Phú Thượng Hòa Sơn đến bây giờ. Năm 1979, ba tôi qua đời tại Đà Nẵng. Anh chín Hiển tôi về làng lập thủ tục an táng. Làng từ chối với lý do, ba tôi đã mất gốc, ông đã bỏ làng mà đi quá lâu. Trước tin này, tôi bức xúc, khó chịu và chạy đi lo đất để chôn ba tôi bên mộ má. Nhưng anh Hiển không bằng lòng. Anh không năn nỉ, nhưng cứng rắn đưa lý lẽ với chính quyền địa phương để thể xác ba chúng tôi phải được về nằm trong lòng đất làng Liêm Lạc. Ruộng vườn ba tôi tạo ra vẫn còn đó, dù bây giờ tự dưng có nghiệp chủ mới. Trong cái bực mình về chuyện này, tôi cũng đã nóng giận muốn từ chối hẳn cái quê nội thân yêu của mình. Anh chín Hiển khuyên ngăn, tôi mới nguôi ngoai. Năm 1985, chỉ một tuần sau tôi ra đi, mẹ tôi qua đời, bà được an nghỉ bên cạnh ba tôi. Không rõ chính quyền có gây khó dễ ?

Mười tám năm xa cách, bây giờ đứng trước mồ mả của những thân yêu, thật tình tôi chẳng có một xúc cảm nào đặc biệt. Lòng cứ như trống rỗng. Buồn, không buồn. Nhớ, chẳng nhớ. Chỉ thoáng một chút băn khoăn, cỏ dại ở đây sao mọc nhiều quá. Lý bấm máy ghi lại một số hình, rồi chúng tôi trở vào nhà. Trên đường đi, tôi thoáng nghĩ, không biết khi mình chết, xác có chôn nơi này ?

Tôi ghé qua thăm nhà chú Diên. Chú đã qua đời vào năm 1976. Chú là người giàu nhất trong các người con của ông nội tôi. Từ cai thợ hồ, chú trở thành nhà thầu xây cất, và bán vật liệu xây dựng như sắt thép, gạch đá… Bất động sản của chú rải rác nhiều nơi trong hai thành phố Đà Nẵng, Sài Gòn. Không rõ có phải vì mất nhiều thùng đạn đựng vàng, chôn dưới một nền nhà bị trưng dụng, làm chú sinh bệnh qua đời hay không ? Số gia tài chú để lại vẫn rất đáng kể, Mỗi đứa con một ngôi nhà khang trang, đầy đủ tiện nghi. Tiên là con đầu của chú, một đàn em thân cận bên tôi một thời, tốt nghiệp và hành nghề dược sĩ trước 1975. Hiện nay, chú ấy cùng vợ, cũng là dược sĩ, đang giữ được nghề cũ tại Đà Nẵng và Sài Gòn. Sau chú Diên, đến lượt các chú Tham, chú cửu Tiền, chú Sô đều đã theo ông nội tôi. Một thế hệ của dòng họ Lê Học tại Liêm Lạc đã kết thúc hoàn toàn.

Sau khi viếng thăm hai bà con gái con chú Hương Doanh. Chúng tôi vội vã trở về Đà Nẵng. Chuyến về thăm quê nội sau 18 năm xa cách của tôi không quá hai giờ đồng hồ. Sự nghèo túng của gia đình cháu Thiệu làm tôi áy náy bởi những bất lực của mình. Những dự định sẽ lang thang thăm lại nhiều nơi, chợt tắt ngúm trong lòng. Ngồi sau yên xe gắn máy do em Hoàng chở, tôi không dám nhìn loanh quanh. Tôi cảm thấy mình thiếu nợ với tất cả. Khi Hoàng cho xe thẳng về hướng Cổ Mân theo một con đường mới mở rộng, tôi úp mặt vào lưng đứa em trai cùng cha khác mẹ, cũng có nhiều không may, mà ứa nước mắt. Tôi tự hẹn với lòng sẽ phải về quê nội một lần nữa, nhưng biết đến bao giờ đây ? Những ngày ở Montréal, mỗi khi nhớ về quê nội, tôi nhắm mắt, đặt tay lên bàn, đã như chạm phải thịt da của con đất giàu liêm khiết, lạc quan ấy. Sao bây giờ, ngay trên đất cội nguồn mình lại cảm thấy lạc lõng, lạnh lùng.

Em yêu dấu, bây giờ Montréal bắt đầu vào mùa lạnh. Tôi kéo rộng cánh màn cửa, từ bàn viết tôi nhìn ra đường Charleroi, con đường cắt ngang đường Armand Lavergne dẫn vào nhà tôi, đang trôi nổi những dòng xe xuôi ngược. Cuộc sống vẫn náo nức níu đuổi nhau sinh động, nhịp nhàng. Còn tôi, ngày qua ngày vẫn cúi đầu trên bàn viết này với những công việc không đâu. Nhớ và vẽ lại những miền đất cũ, những khuôn mặt xưa, bằng những
con chữ có là một cuộc chơi cuối đời cần thiết cho riêng tôi ?

Năm sau nhé, hoặc năm sau nữa nhé. Tôi sẽ về thăm Việt
Nam. Tôi sẽ về thăm quê nội. Quê nội tôi đang được đổi tên là Hòa Xuân. Thịt da của đất đá chắc phải tươi mát hơn. Xin đất nhớ dành cho tôi một chỗ, vừa đủ để một quan tài . Tôi sẽ cố làm một “chiếc lá rụng về cội”.

Luân Hoán

Nguyễn Đức Nhơn
Nhớ Y Uyên

Rừng chồi im phăng phắc
Ta một bóng xiêu xiêu
Vai trần chân bám đất
Nặng một gánh đìu hiu

Kẽo kịt trên đường mòn
Ngõ về xa hun hút
Bóng của buổi chiều tà
Đuổi theo ta bén gót

Ngang qua đồi Nora
Ngậm ngùi bao ký ức
Một sáng nào năm xưa
Anh giã từ chiến cuộc

Một dặm đường anh qua
Bỏ sau lưng một kiếp
Chiều nay ngồi trên đồi
Ta nghe buồn da diết

Tựa lưng gốc cây già
Ngủ vùi trong mộng mị
Chợt bóng anh hiện về
Cùng ta ngồi uống rượu

Ta cựa mình ngơ ngác
Nhìn quang gánh hững hờ
Con dốc dài trở giấc
Thở khói chiều lưa thưa

Ta lặng lẽ lên đường
Mấy mùa phơi râu tóc
Nhuộm trắng cả mái đầu
Trong nỗi buồn se sắt

Ta ngó về phương xa
Từ một nơi vô định
Con chim trời bay qua
Ta rùng mình ớn lạnh.

Nguyễn Đức Nhơn

***

Võ Thị Điềm Đạm
Về Phía Tận Cùng

Arizona, núi cao sỏi cháy
Trả lại người giọt nắng cọng mây
(Nối tiếp bút ký Bước Chân Lãng Tử)

Xe chạy ra khỏi cổng trại khi trời còn mờ tối, quay đầu, gởi lời chào giả từ, mong hơi gió lành lạnh đi vào giấc mơ những nguời trong đại gia đình Grapevine Canyon Ranch. Cảm giác luyến tiếc mỏng dần, mỏng dần như khí lạnh tinh sương mỏng tan theo nắng sớm …cho đến cuối đường liên xã. Ðoạn đường này vắng tanh cho nên lòng chúng tôi cũng vắng lạnh theo, và… những rắc rối, phiền phức… được tích trử trong hai tuần bắt đầu tìm cách lấp dần… lấp dần… Lời bàn tán trong xe càng lúc càng sôi nổi theo ánh nắng mặt trời càng lúc càng tỏ. Thiệt tình mà nói, bốn nguời chúng tôi đâu đến nỗi bạc tình cho lắm, nhưng… trong bốn câu phát biểu thì chỉ có một câu khen. Chắc tại ma xui quỉ khiến!

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Bắt đầu là cái chuyện quái đản nhất chưa từng thấy trong cuộc đời lãng du của chúng tôi. Hôm qua, khi thanh toán tiền, nguời thu ngân trình bày bản kế toán cho gia đình T. Ðây là lúc “cây toán” trong tôi bắt đầu làm việc (Khi nào có chuyện dính líu đến tiền là tôi tính lẹ lắm! Giống như con nít, học gì chớ học đánh bài là đầu óc sáng suốt hẳn ra.) Tôi làm tài lanh, liền bỏ nhỏ vào tai bạn hiền: “Sao lại có chuyện cộng thêm mười lăm phần trăm hè? Trong bản info có cho biết rõ ràng là mọi giá cả đều đã được tính thuế mà!” Hỏi ra mới biết: Ðây là con số đề nghị tặng thêm cho những dịch vụ trong bảy ngày nay. “Dịch vụ?” “Vâng, những nhân viên phục vụ ở nhà bếp, phòng ãn, hướng dẫn đi chơi… nhưng đó chỉ là đề nghị, ông bà muốn cho bao nhiêu cũng được.” Chẳng lẻ mình thắt chặt cái ruột tượng lại, xấu hổ con nhà Viking lắm lắm. Trại này lần đầu tiên có khách nguời Viking mờ, dầu gì thì mình cũng là đại diện xứ Na Uy đất lạnh tình nồng. Thôi đành ngậm đắng nuốt cay.
Và bây giờ lớp vỏ ngoài của viên thuốc đắng bể ra:
– Hôm qua, nếu mình cho năm phần trăm thì họ cũng không làm gì được mình. Họ nói đó chỉ là đề nghị mà. Mình mua trọn gói với giá nhất định như khi mua một món hàng. Giá cái áo để hai mươi dollar thì mình trả hai mươi dollar.
– Bà “bộ trưởng bộ tài chánh” suy nghĩ kiểu này có ngày họ đâm thủng bánh xe, trễ máy bay cho biết thân.
– Chớ anh coi, mình là khách của họ thì họ phải phục vụ mình. Mình trả tiền chớ mình có ở không đâu.
– Hèn gì mỗi sáng họ ân cần đến từng người hỏi mình muốn gì cho menu sáng nay, làm menu cho từng người.
– Ăn xong mỗi bữa cơm chiều, họ đều ân cần mời bánh ngọt, trái cây theo ý mình, cà phê, trà, ngon lành.
– Ân cần nói chuyện, ân cần hỏi thăm… cái gì cũng ân cần hết… hừm không biết những ân cần này có thật lòng tử tế không nhỉ.
– Con đọc những chỉ dẫn cho khách du lịch đến Mỹ là tiền tip khoảng mười lăm phần trăm đó.
– Ðọc ở đâu? Cái này là thắt họng.
– Hèn gì… nhớ không… ai cũng thiệt là ân cần, thiệt là vui vẻ, từ tài xế taxi cho đến nhân viên nhà hàng, nhân viên khách sạn.
– Lúc đầu mình cứ tuởng người Mỹ hềnh hoặc, cởi mở.
– Cái này là khẩu ma tâm quỉ. Khen thì khen dữ lắm. Chê thì chê cho thiên hạ hết đường chạy. Những nguời Mỹ cùng nhóm đâu cần phải có tip, họ vẫn vui vẻ cởi mở gấp đôi người Na Uy tụi mình. Thấy chưa, chỉ sau một tuần ở đây là hai nguời nhỏ nói tiếng Anh giọng Mỹ liền. Không phải là nhờ tính thoải mái bình dân phóng khoáng của người Mỹ sao?
– Ở đây mình nói chuyện nhân viên phục vụ kia. Ðồng lương của họ lệ thuộc khá nhiều vào khoảng tiền tip.
– Như vậy có nghĩa là đồng lương của những nhân viên phục vụ trực tiếp khách hàng đã bị, bị với chữ in to, bị cộng vô tiền tip. Ai giỏi nịnh thì được lương cao. Vậy ra từ bữa giờ, mình tự động giảm lương nhân viên theo lối tặng tip của Na Uy.
– Thế thì tội nghiệp họ quá. Vui vẻ ân cần để đuợc thưởng tiền, nghe sao hạ giá trị con nguời quá đi.
– Như vậy cũng không vui gì cho khách hàng vì mình không biết nhân viên ân cần sốt sắng là thực lòng hay chỉ đóng kịch… phiền… phiền… cứ như bên châu Âu là khỏe cho cả hai bên. Mình ăn ở nhà hàng, thức ăn ngon, phục vụ chu đáo thì mới tặng nhiều tip chứ đâu phải vì “phải” tặng.
– Đúng ra theo tinh thần phục vụ khách hàng, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi để khách còn muốn tiếp tục tới trong tương lai chứ không phải vì tip.
– Tốt hơn hết, mình cứ nhận sự ân cần cởi mở với tấm lòng cởi mở ân cần là vui cho cả hai bên. Chỉ biết rằng đây là một tuần lễ mang nhiều kỷ niệm vui đẹp là đủ rồi. Ðược sống trong lòng xã hội Mỹ như thế này còn muốn gì hơn nữa.
– Như vậy là từ đây mình phải tăng lương cho tài xế taxi, nhân viên phục vụ nhà hàng… mười, mười lăm phần trăm… ui… không nhỏ đâu nhá.
– Nhập gia tùy tục mà.
– Bạn nói hay lắm. Cái ngân sách bạn chuẩn thuận cho “bộ tài chánh”, bạn quên tính thêm mười lăm phần trăm tip. Bây giờ tính sao cho phải đạo thì mới ứng dụng được câu nhập gia tùy tục.
– Thì giảm shopping.
– Hả?
– Cái gì?
– Cái gì?
– Nếu ngân khoản không đuợc chỉnh tu gấp thì coi chừng “bộ truởng bộ tài chánh” đình công, nói trước cho biết.
– À há… thôi biết rồi, hiểu rồi.
– Chi?
– Hôm đầu đến phi truờng Kennedy, một phi truờng lớn nhất nhì trên thế giới, ở một nước văn mình nhất thế giới mà làm mất của mình một cái valise. Mấy bà nhân viên ở phi truờng cà lơ cà láo. Bà nào cũng gật đầu ừ…ừ… để đi tìm, để báo cáo… lặn mất tiêu, lâu lâu hiện ra, vòng qua vòng lại, chỉ tới chỉ lui, rốt cục giờ này chưa nhận lại được. Công chuyện này đâu có được tặng tip nên cần gì phải sốt sắng niềm nở chi cho ốm người.
– Ha… ha… cho ốm người! Nhớ không? Cái này chưa kể “thủ tướng” nghe.
– Gì?
– Lúc “thủ tướng” chạy tới chạy lui lo tìm cái valise bị thất lạc, ba thần dân ngồi ngắm dân New York đi qua đi lại và làm một cuộc thống kê giả chiến. Kết quả là cứ ba người thì có một người mập. Kinh khủng chưa?
– Ðúng là quê hương của McDonald, Burger King, Kentucky Fried Chicken, Coca Cola
– Xăng rẻ, xe rẻ, gia đình có trung bình hai chiếc xe nên hở một chút là lên xe, calories để đâu cho hết.
– Thế nào thì gọi là mập?
– Ơ… ơ… cái bụng rung rinh, cặp chân đi ngang ngang vì lớp mỡ ở đùi, được gọi là mập.
– Bị chớ sao lại là đuợc. Nên nhớ, nên nhớ… nhiều người bị mập vì bịnh hay di truyền đó nghen.
– Còn nữa.
– Bản thống kê giả chiến cho thấy những người mập đa số, đại đa số là người Mỹ da đen hay người Mỹ Latin.
– Và cũng nên lưu ý đây là phần hành thấp trong cơ cấu điều hành phi truờng nên đa số nhân viên là người da màu. Sự thống kê này không được toàn diện cho lắm.
– Đổi lane… đổi lane tay phải, theo bản chỉ hướng phi truờng.

Ở phi truờng Phoenix, những hình tuợng cây xương rồng xấu xí, con kỳ nhong kỳ đà nhìn thấy là rợn nguời và những gương mặt nghênh ngang với cái nón cao bồi trên đầu không còn làm chúng tôi bận tâm nhìn theo nữa. TV, mới đáng đồng tiền. Sau một tuần hoàn toàn cắt đứt mọi liên lạc với thế giới bên ngoài, không báo chí, không TV, không internet, chúng tôi giật mình, châu đầu lại truớc cái TV treo trên tường khi khám phá ra tin bão Karina đang náo động vịnh Mexico từ mấy ngày nay. Ðặt biệt là vùng Key West, nơi chúng tôi sẽ đến để làm mỹ ngư nhân trong năm ngày, một số dân đã tản cư về Miami.

Thủ tuớng trấn an mọi nguời: “Máy bay xuống Miami không bị hủy bỏ có nghĩa là Miami an toàn, cứ tới đó rồi tính, chắc mình phải ở lại Miami để chờ biển êm.” Tôi hơi khoái khoái trong bụng nhưng dại gì nói ra. Số là khi sắp xếp chương trình, tôi muốn ở Miami năm ngày truớc khi xuống Key West, và vì lặn ở biển lạ, tôi không yên chi cho mấy. Nhưng bạn hiền cứng đầu của tôi khăng khăng, cho ở Miami ba ngày thôi, muốn dùng nhiều ngày ở Key West để đùa vui với mấy “nàng tiên cá” còn hơn là phải lẻo đẻo theo mấy “nàng shopping”. Và bây giờ… ha…ha… trời không phụ người hiền!

Ðúng như tôi ao uớc từ đầu, chúng tôi ở lại Miami thêm hai ngày để chờ thời tiết thật yên, vị chi năm ngày! Kinh nghiệm những chuyến lãng du truớc, đến một nơi nào đó thì chúng tôi phải cần ba, bốn ngày mới thông thạo đuờng xá. Vừa tìm được nhà hàng vừa ý thì mình lại khăn gói lên đuờng. Bốn nguời, tính lợi tính thiệt, đi taxi vừa nhanh vừa tiện, không mắc hơn bốn vé xe buýt bao nhiêu, thì giờ là tiền bạc! Ông tài xế đưa chúng tôi từ phi truờng về khách sạn đương nhiên cũng rất ân cần cởi mở, đuợc thêm cái thực lòng nên chúng tôi nhận lời đề nghị của ông ngay. Thay vì chạy xe khách, chúng tôi bao xe sáu giờ một ngày, ông sẽ đưa chúng tôi đi tham quan những nơi đáng xem của Miami, hai ngày. Còn muốn gì hơn, đúng là ở hiền gặp lành! Ai đây? Chúng tôi? Ông tài xế? Cả hai!

Miami, Miami, thành phố của những tay giàu xụ từ năm châu tụ về. Và biệt thự của những tay tài phiệt này dĩ nhiên nằm ở miền Tây thành phố (Ðến giờ này tôi cũng không hiểu tại sao, cứ dân giàu là ở về phía tây, bất cứ thành phố nào). Biệt thự rộng gì mà xe chạy một đổi lâu mới hết khuôn viên vuờn. Chạy xe vào những khu này đường xá mát ruợi, được nhìn thấy villa của một vài tài tử nổi tiếng, một vài doanh thương, có vài người gốc Na Uy, thường là trong ngành xây lắp tàu hàng, chúng tôi chỉ có nước lắc đầu than: “Tội nghiệp! Tội nghiệp! Nhà rộng như vầy chắc vợ chồng con cái muốn nói chuyện với nhau phải dùng walkie-talkie.”

Miami, Miami Vice của Don Johnson đẹp trai, anh chàng hiệp chủng Da Ðỏ-Irish-African-American Philip Michael Thomas và ông sếp da mặt sần sù nhăn nhăn nhó nhó Edvard James Olmos. Có điều lạ (Ði đâu cũng thấy điều lạ!) là rất nhiều bản chỉ dẫn đều dùng hai thứ tiếng: Mỹ và Tây Ban Nha. Như vậy theo suy đoán của chúng tôi, ở Miami có rất nhiều di dân từ châu Mỹ La Tinh và được dân Miami mở rộng vòng tay đón chào và chắc chắn trong giới chính khách có một số người gốc châu Mỹ La Tinh.

Sẵn đà, thử làm dân giàu, ông tài xế đưa chúng tôi viếng thăm khách sạn (Quên tên! Có tính ở đâu mà nhớ!), một khách sạn sang nhất thế giới với hồ bơi lớn nhất thế giới (Đúng là Mỹ! Cái gì cũng phải đứng hạng nhất). Không biết ông tài xế nói gì với những nhân viên bảo vệ, họ cho chúng tôi đi khắp khách sạn để chiêm ngưỡng từ ba phòng ăn rộng ngút mắt đến toillette “thơm” dìu dịu. Cái gì cũng mang dáng dấp quí giá sang trọng đến nổi chúng tôi cảm thấy mình như những con dế mèn nhỏ bé đang phiêu lưu ở hốc đá miền quê khô cằn sỏi cháy bị thằng nhóc con nhà giàu bắt bỏ vô trong hộp thủy tinh trong suốt bóng lộn, còn xịt dầu thơm vô nữa chớ. Mấy con dế mèn lóng cóng lơ ngơ. Lén liếc nhìn những người khách thỉnh thoảng hiện ra ở hành lang, …mọi dáng đi, mọi cử chỉ, mọi trang phục… cái gì cũng mang chất quí phái trời ạ! Dân nhà giàu có khác, mà phải là giàu từ đời ông cố ông sơ. Tôi nhủ thầm: Nếu tôi trúng số một trăm triệu, hoặc ai đó cho tiền thuởng, tôi cũng không thèm ở đây. Càng ở nơi giàu sang quí phái, cái quê mùa cục mịch của mình càng hiện rõ, chỉ nhận lấy phận cô đơn lạc lõng. Thôi, ta về ta tắm ao ta.

Một bữa trưa, vừa mệt mõi sau mấy giờ ròng rã ngắm phố xá, vừa hà tiện, chúng tôi đặt pizza lên phòng. Nằm dài ra giường, đưa miếng pizza lên miệng, tôi há hốc vì một câu chuyện nhỏ được kể trên TV. Chuyện kể về một gia đình nghèo, và vì nghèo nên họ phải đem theo thức ăn trưa chứ không mua ở ngoài. Chuyện có thiệt không đây? Mang theo thức ăn trưa mà gọi là nghèo à? Ở Na Uy, chín mươi tám phần trăm đều mang theo gói bánh mì ăn trưa tự làm ở nhà hồi sáng. Ðó là Na Uy được xếp vào một trong năm nước có mức an sinh cao nhất thế giới. Chắc tại người Mỹ quen tánh lười, lười đi bộ, lười nấu ăn (cho nên mấy tiệm fast food mới giàu nổi!), lười làm thức ăn trưa… chúng tôi cười với nhau. Ngẫm nghĩ sao đó, hai người nhỏ quay lại, hỏi: “Má nghe đúng không đó?” Quỉ chưa, chúng coi thường khả năng ngoại ngữ của tôi! Vậy mà tôi kỳ cục rảo trên net, trang này qua trang nọ, đêm này qua đêm kia để tìm một Dive Club năm sao cho chúng đuợc hãnh diện với bạn bè là đã từng lặn ở miền biển Gulf of Mexico và cái bằng lặn được lên cấp.

Chuyện mướn xe chạy từ Miami xuống Key West là một quyết định sáng suốt. Tôi đó! Dễ gì thủ tướng chịu nghe lời tôi liền, tôi phải ký hòa uớc: Làm cho thủ tuớng ly cà phê đen đá khi đến nơi. Chỉ cần tìm đuờng ra khỏi thành phố, muời phút chớ mấy, cũng không de xe, không trở lui, không thắng gấp, là ra được xa lộ. Nhưng lần này thì tôi phải công nhận đó là do bảng chỉ dẫn giao thông rõ ràng. Ðường xa lộ ở Mỹ quả thật là… Mỹ. Ðường một chiều có tới bốn lanes và chẳng thấy đường xe ngược chiều đâu cả.

Biển, biển xanh ngát, biển ngút mắt, biển bạc ngàn, biển nối liền chân trời, biển làm mát lòng nguời. Xe chạy từ key này đến key kia, cứ thế theo thứ tự trên bản đồ, qua ít nhất mười keys. Mỗi một key là vùng dân cư thưa thớt, đa số làm nơi nghỉ mát, nhà nghỉ mát chạy dọc theo đường lộ. Các keys đuợc nối với nhau bằng những cây cầu dài hay đường lộ. Có những khoảng đường lộ với độ cao gần như mặt biển, đường lộ ngăn cách Ðại Tây Dương và Thái Bình Dương, dài cả chục cây số, biền biệt. Tôi cứ thắc mắc không biết nước biển miền nào mặn hơn. Thử tưởng tượng nhá, một ngày nào đó có những con sóng lớn, sóng Ðại Tây Dương hòa với sóng Thái Bình Dương, nước biển sẽ ra sao nhỉ. Chắc cũng như chồng Tây vợ Việt, cho nên con lai có tóc nâu, mắt nâu.

Rời thành phố Miami nhà cao cửa rộng, đến Key West vườn hẹp nhà thấp, chúng tôi có cảm tuởng như mình đi ngược dòng thời gian khoảng trăm năm. Ngoài vài ba đường phố chính, những đường nối kết rộng chỉ đủ hai xe. Ða số nhà gỗ, thấp, nhỏ nằm khiêm nhường trong những khu vườn không được chăm sóc kỷ lắm. Cả làng sống vào ngành du lịch cho nên không có những khu biệt thự đồ sộ, những hãng xưởng rộng lớn, những khu hành chánh bóng lộn… Mặc dù dấu tích trận bão vẫn còn đây đó nhưng sinh hoạt coi bộ không có gì thay đổi. Những chiếc taxi màu hồng, đúng vậy, màu hồng tươi nữa đó, loại xe cũ đầu thế kỷ hai mươi được tân trang lại, thỉnh thoảng xuất hiện trên đường phố, điểm trang thêm nét quyến rũ cả một làng chài còn mang nhiều dấu vết thủa mộc mạc an nhàn. Nét an nhàn không những hiện trên gương mặt người du khách mà còn đượm trong dòng xe cộ luân lưu thư thả len lỏi giữa mạng đường luôn có nhiều lá rụng vì con gió tối hôm qua. Cảnh sống tân tiến duy nhất theo đúng thời đại ở chính làng Key West là con đường dọc cảng, những khách sạn nằm dọc cảng. Nhưng không một khách sạn nào cao quá bốn tầng. Chắc đó là chính sách của làng Key West. Mong thay! Mong thay!

Bảo rằng: Hoa giống như tim vỡ – Anh sợ tình ta cũng vỡ thôi. Câu thơ của T.T.KH. đó. Ðúng vậy, dàn hoa ti gôn hồng mơn mỡn thả dài trước cánh cổng gỗ ngôi nhà chúng tôi sẽ ở năm ngày. Dàn hoa bắt mắt tôi ngay, tôi mừng rỡ, quăng cái giỏ đeo (trong xe), chạy ào ra (bao năm rồi không gặp, từ khi em…), nâng từng nhánh hoa li ti, ngắm từng cánh hoa do bốn năm trái tim hồng ngọt mắt kết vào nhau nằm cạnh những cánh lá cũng mang hình trái tim xanh mướt. Nhìn bạn hiền loay hoay tìm chỗ đậu xe, bốn câu cũng trong bài thơ Hai sắc Hoa Ti Gôn của T.T.KH. len lỏi từ vùng ý ức xa mờ, trở về …Nếu biết rằng tôi đã có chồng – Trời ơi, nguời ấy có buồn không? – Có thầm nghĩ đến loài hoa vỡ – Tựa trái tim phai, tựa má hồng. May quá(?), tôi không có “người ấy” nào hết. Nếu không là mang tội ngoại tình trong tư tuởng. Thôi thì lo làm một ly cà phi đen đá tuyệt vời, đó là lời khen nịnh của bạn hiền mỗi khi được tôi “bỏ công” pha cho, để toàn tất bản hòa ước trước khi rời Miami.

Mướn căn nhà tên Cat-house trong khu vực Captain’s Corner Dive Center với nhiều ước muốn: Thăm một làng chài còn giữ được nhiều nét đơn sơ, không bao giờ được nhắc đến trong những trang lịch sử thời nội chiến, ở tận cuối nam Mỹ. Hai người nhỏ nâng cấp bằng lặn và hai người lớn tập tành học lặn. Ở cái tuổi nửa đời người mà muốn học lặn thì quả thật… điếc không sợ súng. Ngay từ hôm đầu, tôi nhận ra ngay sự dại dột ham vui của mình. Như đã kể, khả năng anh ngữ của tôi chỉ đủ đi chợ, nói chuyện năm ba phút là tắt nghẹn. Tôi ỷ y có bạn hiền ra tay cứu độ. Nhưng khi huấn luyện viên giải thích cách sử dụng bình dưỡng khí, cách đeo bình, những tín hiệu trao đổi với người “đồng lặn”, cách giúp người “đồng lặn” đeo bình dưới nước… từ từ tôi nhận ra khả năng tiếp thu và ứng biến đã mòn dần theo tuổi đời hồi nào không hay biết, chứ không phải chỉ vì khả năng ngoại ngữ hạn hẹp. Càng tệ hơn khi thực tập lặn ở hồ bơi, lòng tự tin tiêu tan theo nước hồ, chắc tại nước có pha clorine, tẩy sạch màu sắc! Ý định bỏ cuộc thành hình.

Theo luật bơi lặn, luôn luôn phải có hai người lặn chung với nhau. Những gì sẽ xẩy ra nếu tôi không thực hiện đúng như bài học vì hiểu lầm vì chậm tiêu chậm phản ứng, nhất là những lúc cần thiết. Chuyện này có liên hệ đến mạng sống của bạn hiền tôi. Tối đó, tôi thú thiệt là tôi bỏ cuộc, muốn yên phận già. Gương mặt bạn hiền sáng lên. Ðúng tim đen! Thế là chúng tôi đồng ca …vẫy tay vẫy tay chào em, một lần đầu và một lần cuối.

Không lặn được thì ngụp vậy. Chúng tôi theo tàu ra biển với hai người nhỏ. Trên tàu có nhiều nhóm, nhóm mới tập lặn, nhóm lặn ở trình độ khó hơn, sâu hơn, nhóm lão làng, nhóm ngắm dạo thủy thế. Tôi và bạn hiền thuộc nhóm sau cùng. Tàu chạy ra khơi khoảng một giờ, ngưng máy, nằm chờ mọi nguời. Mỗi nhóm theo hướng dẫn viên của mình.

Nhóm dạo ngắm thủy thế (snorkel) khỏi cần hướng dẫn viên. Ðeo đôi chân vịt, nhét một đầu ống thông hơi vào miệng, ép chặt giữa đôi môi và hàm răng, ngậm chặt, đeo đôi kính bơi lớn như kính của phi công, chân trước chân sau, thẳng người, nhảy xuống theo tư thế bước tới, tới… bõm. Nằm xấp, mặt cho chìm dưới nước, ống thông hơi thẳng cao khỏi mặt nước, đôi chân vịt đạp nhẹ, cứ thế mặc sức mà dạo thủy thế. Cách dạo này giống như những lần đi dạo phố hồi còn trẻ, chân rảo hàng này qua hàng kia, tiệm này qua tiệm kia, túi thì trống rỗng, lòng thì ngập đầy ước mơ. Chỉ được ngắm thôi, ngắm nhìn cá đủ màu sắc, đủ hình dạng lượn lờ giữa dòng nước trong xanh, len lõi giữa hốc đá bụi rong. Khoảng cách dưới nước dường như thu ngắn lại, nhiều khi cá lượn tưởng như ngay tầm tay mình, nhưng quơ tay chụp hoài không được. Ôi, niềm ước ao lớn nhất của tôi lúc bấy giờ là chụp được một con cá, dơ lên, khoe với mọi người.

Thú vị lắm! Giống như trời cao nhìn xuống dân gian, xét xoi trần thế. Tôi cũng vậy, từ mặt nước cao nhìn xuống biển sâu, cũng xét xoi thủy thế: Theo dõi những trận thư hùng, không biết dành mỹ ngư hay dành miếng ăn (dành mỹ ngư thì còn thông cảm!). Có những con hung hăng bọ xít, hết tấn công con này đến rượt con kia. Sao thấy tội nghiệp tụi này, không chút thảnh thang. Có những con hiền lành ngơ ngơ ngáo ngáo kiếm ăn, thiệt là dễ thương. Ðúng là cá lớn chớp cá bé. Thích nhất là theo dõi những cặp tình nhân. Có cặp rủ nhau vào bụi rong, có cặp văn minh hơn nên coi thiên hạ không ra gì cả.

Ba ngày theo tàu ra biển khơi, nằm xấp dạo thủy thế, người tôi đen nâu hai phía, may mà cái mặt úp xuống nên chưa thành Congo. Nghe hai người nhỏ kể chuyện theo đoàn lặn, khám phá chuyện này chuyện kia, hai người lớn ước chi mình trẻ lại ba mươi năm. Người nhỏ nhất bắt đầu:
– Key West nổi tiếng vùng biển lặn của Mỹ nhưng không thể so sánh với Nha Trang.
– Lặn ở Nha Trang hấp dẫn hơn, huyền bí hơn.
– Ờ!
– Dạo thủy thế Nha Trang cũng mê say hơn, sống động hơn.
– Ờ!
– Ở Key West không có nhiều loại tôm cá đặc biệt.
– Vùng san hô Nha Trang rộng lớn hơn.
– Chỗ lặn lý tưởng là nơi có nhiều san hô, đá ngầm, càng hiểm trở càng hấp dẫn.
– Kỳ tới về Việt Nam, mình đi Phú Quốc, còn tuyệt hơn Nha Trang nữa.
– Phan Thiết có chỗ lặn không?
– Chưa nghe nói tới. Biển Phan Thiết không có vùng san hô. Ra Hòa Ða, nổi tiếng san hô, bảo đảm đoàn lặn như Padi sẽ khám phá nay mai. Chắc chắn Padi sẽ xây dựng cơ sở, phát triển ngành lặn ở Hòa Đa không thua gì Nha Trang và Phú Quốc.
– Lặn vào ban đêm có khác với ban ngày nhiều không?
– Đúng ra thì không có gì mới lạ hơn. Tập đeo đèn đầu, tập nhìn nhận quang cảnh dưới nước vào ban tối, tập quen với cảm giác lặn vào ban tối để học cách ứng biến trong mọi trường hợp vậy thôi.
– Nhưng biển ban đêm lạnh hơn, phải mặc bộ đồ người nhái toàn người, bao cả đầu.
– Như bộ đồ ở Na Uy?
– Dạ, cũng bao hết từ đầu đến chân, nhưng mỏng hơn.
– Hồi trưa suýt nữa con chụp phải con rắn nước.
– Ha… ha… con với hai người nữa thấy trước. Chừng thấy V. cứ cắm đầu bơi về hướng đó, tụi con ra dấu cho V., cố ngăn không cho V. tới gần, nhưng V. ngơ ngơ ngáo ngáo không để ý gì hết. T. phải bơi lẹ thiệt lẹ, chụp được chân V. Hú hồn!
– Con không nhìn rõ, không có cảm giác gì hết.
– Sao lạ vậy?
– Theo lời giải thích của hướng dẫn viên thì khi chụp bình dưỡng khí, đôi lúc phản ứng như say thuốc phiện, nhận thức không được rõ ràng bén nhạy cho lắm.
– Tóm lại, lò mò xuống nơi tận cùng của nước Mỹ để lặn coi bộ không đáng đồng tiền bát gạo cho lắm.
– Ðáng lắm chớ. Bây giờ tụi con có thể khoe khoang là mình đã lặn ở Mỹ, đáng khoe lắm đó. Ðược qua Mỹ, được nhìn tận mắt những gì chỉ thấy trong phim ảnh, được tiếp xúc trực tiếp với người Mỹ, được nói giọng Mỹ… Ði chuyến nữa nghen.
– Ui… ui… qua Mỹ chuyến nữa… hừm… Mỹ rộng lớn quá… biết đi chừng nào cho thỏa mãn đây… phải hỏi thăm ruột tượng… coi bộ khó à nghen…

Cái chuyện lặn dưới biển sâu này học hoài không hết, phải nâng cấp đều đều. Nhiều người đã từng bơi lặn cả mười năm mà bây giờ cũng ghi tên học thêm khóa này, khóa kia. Hú hồn! Chúng tôi sớm sớm tìm được đường qui chánh. Cho nên dầu giấc mơ được làm mỹ ngư nhân tan nhanh theo nước hồ, tôi không tiếc chút nào hết.

Ở đây, chúng tôi phải tự túc chuyện ăn uống, hơi cực nhưng có cái vui của nó. Cái thú của chúng tôi mỗi khi đến một nơi nào mới là ngắm nhìn hàng chợ bán thức ăn để tìm kiếm những thứ mới lạ, mua thử, ăn thử. Nay nhìn những kệ thuốc đầy nhóc, kệ này qua kệ kia ở supermarket, cái thành kiến (qua phim ảnh) về hiện tượng lạm dụng thuốc viên của người Mỹ được tô đậm trong đầu chúng tôi, cái gì cũng dùng thuốc, làm như thuốc viên là tiên vậy.

Từ mấy ngày nay, chúng tôi đã để ý thấy nhiều người với bộ râu quai nón, hàng râu mép phủ cả môi trên, râu tóc trắng, dáng to ngang và nhất là bụng to vì bia rượu, đi rảo con đường phố chính Duval Street, đường cảng, quanh khuôn viên Whitehead Street Home.

À ra… ngày Hemingway tới rồi mà mình quên mất tiêu. Đây cũng là một trong những lý do khiến chúng tôi chọn Key West vào tuần lễ này. Thật ra thì chúng tôi, phải nói là hai người nhỏ thuộc thế hệ sau, chẳng biết gì đến nhà văn này của Mỹ, còn hai người lớn cũng chẳng phải là người hâm mộ của ông, đọc vài quyển, xem vài phim… nhưng tò mò sẵn dịp vậy mà.

Nói đến Ernest Hemingway, không ai không nghĩ đến truyện Ngư Ông Và Biển Cả. Ðây chính là nguyên nhân những fans của ông tổ chức ngày Hemingdays ở Key West. Người Mỹ dành, bảo rằng câu chuyện xảy ra ngoài biển khơi không xa Key West mấy, cùng là một vùng biển, mặc dù Ernest Hemingway viết truyện này khi ông ở Cuba và bối cảnh là một làng chài ở đó. Và cũng nơi đây, Key West, từ năm 1931, người văn sĩ lãng tử từng đoạt giải Nobel Văn Chương đã cư ngụ thường xuyên ở biệt thự Whiteheat Street Home để tìm cảm hứng cho sự nghiệp viết lách của mình.

Cho đến ngày cuối, chúng tôi mới có thì giờ đi rảo tìm nơi tổ chức những ngày này. Không cần đi đâu cho xa, cách Captain’s Corner Dive Center, nơi chúng tôi ở năm phút đi bộ, quán rượu Sloppy Joe’s Bar đã đông nghẹt người. Chưa tới nơi, tiếng reo cười, tiếng hoan hô náo động cả con đường Duval. Chen chân phía ngoài quán rượu chúng tôi cũng phải cười theo cách mỗi diễn viên diễn tả một hành động quen thuộc trong những truyện của Ernest Hemingway. Phải từng đọc truyện và xem phim về ông, khán giả mới hòa vui hoàn toàn với mọi người trong những ngày này. Dấu hiệu để nhận ra người ngưỡng mộ của Hemingway là đàn ông to ngang, tóc râu trắng toát, đội kết (caps), quần áo màu vàng xám nhiều túi, nếu được bụng bự và gương mặt ngang ngang luôn ưng ửng đỏ là nhất. Quả thật, khi ông Bob Doughty giựt giải “giống Hemingway” ngồi trên ghế, vuốt đầu con mèo đen trắng, hình ảnh nhà văn lãng tử hiện ngay trong tâm trí mọi người, dầu là dân ngưỡng mộ hay không.

Năm ngày, năm ngày được đùa vui với sóng biển nơi tận cùng của nước Mỹ, dầu không tròn ước mơ làm mỹ ngư nhân, tôi vẫn hoàn toàn mãn nguyện. Thôi thì ráng nhớ, đến kiếp sau sẽ bắt đầu ghi tên học lặn khi cơ thể còn lanh lẹ, đầu óc còn trong suốt.

Võ Thị Điềm Đạm

[/read]

***

Nguyễn An Bình
Con Mắt Phú Yên

Có phải em con gái Tuy Hòa
Neo tình tôi sau mấy ngõ hoa
Để hương nắng sớm tràn lên tóc
Dừng bước giang hồ bụi đường xa.

Theo dấu chân em bước qua cầu
Đà Rằng mấy nhịp gởi về đâu?
Hay tình theo nước xuôi Đà Diễn
Núi Nhạn ngàn năm đứng dãi dầu.

Hùng Vương ánh điện đèn giăng sáng
Sông Chùa in đáy nước đêm thơ
Em về ngang đó soi bến nước
Con mắt Phú Yên có đợi chờ.

Đụn rơm vàng óng trước nhà ai
Thấy mắt em vui phía Chóp Chài
Đàn bò gặm cỏ qua sông cạn
Bóng đổ dài theo những nương khoai.

Triền dốc mùa nầy lau trắng rợp
Vàng hoa mướp nở rộ sông Ba
Hình như tháng tám mây trong lắm
Dưa xanh đồng bãi mượt phù sa.

Con mắt đa tình em Phú Yên
Chiều về lộng gió cát Bãi Môn
Con sông lau sậy buồn không nói*
Giữ mãi tình em sóng Đà giang.

Tuy Hòa, tháng 8-2017

* Con sông lau sậy: Ea Drăng
theo nghĩa của từ Chăm cổ, một cái tên khác của sông Đà Rằng.

Nguyễn An Bình

***

Nguyễn Đức Nhơn
Một Đêm Thu

Mong gặp em sau bao ngày xa cách
Hai phương trời mờ mịt bóng mây giăng
Tôi nhẹ bước qua ngõ buồn hiu hắt
Đêm thu về nhớ quá một mùa trăng!

Trời chớm thu gió thu lành lạnh
Sương giăng mờ lối nhỏ bước chân khuya
Theo ngõ vắng lần về thăm xóm cũ
Bao lâu rồi, qua hết mấy mùa mưa ?

Em hỡi em
Người em bé nhỏ
Đã cùng tôi hò hẹn một đêm thu
Dưới ánh trăng khuya em tựa đầu thỏ thẻ
Anh đi rồi buồn lắm anh ơi!

Rồi ngày lại ngày qua
Tôi vẫn đi biền biệt
Ngôi làng cũ đã tràn lan bóng giặc
Người tôi yêu chờ đợi mỏi mòn
Nàng bước theo chồng trong tấc dạ héo hon
Tôi vẫn đêm đêm mắt trừng canh bóng giặc

Người em gái tôi yêu
Chưa một lần biết khóc
Thôi hết rồi người em gái tôi ơi!

Trời chớm thu lá vàng rơi trước ngõ
Tôi lại đi
Một lần nữa ra đi
Nhưng đêm nay
Không có bàn tay bé nhỏ
Cầm tay tôi bịn rịn buổi phân ly

Em hỡi em người em tôi yêu
Có bao giờ gian dối ?
Buồn trong tôi vời vợi
Khúc nhạc tình
Quấn quít mãi không thôi

Đêm nay buồn lắm em ơi
Tôi đi dưới bóng sao trời lưa thưa…

Nguyễn ĐứcNhơn

***

Nguyễn Đức Nhơn
Cũng Đâu Muộn Màng

Lạc nhau từ thuở sơ sinh
Trong cơn mê loạn giật mình nhớ nhau
Dặm ngàn hun hút vó câu
Ba ngàn thế giới còn đâu chưa tìm ?
Hay là em ở trong tim
Còn ta thì mãi đi tìm vu vơ
Đường còn xa lắc xa lơ
Mà ta thì đã mệt phờ tóc râu
Ừ, thì cũng rán chờ nhau
Một ngàn năm nữa cũng đâu muộn màng !…

Nguyễn Đức Nhơn

***

Nguyễn Đức Nhơn
Bướm Trắng

Em về gió lộng tóc bay
Mùa hoa vàng mộng nở đầy lối xưa
Dáng gầy tà áo đong đưa
Giọt sương chiều muộn cũng vừa vỡ tan

Dòng êm, con nước mơ màng
Gió lay bờ mộng, hai hàng liễu buông
Sắc trời nhuộm đỏ chiều hôm
Trắng hoa bờ giậu cánh chuồn chuồn bay

Em về có ở lại đây?
Tôi gieo mộng giữa ban ngày mà vui
Ra ngồi giữa đám vòi voi
Trắng hoa, trắng cả lòng tôi giữa trời

Em về rồi lại đi thôi!
Bỏ sau lưng một vành môi hững hờ
Tôi ngồi dệt nốt bài thơ
Hóa con bướm trắng nằm mơ ban ngày!

Nguyễn Đức Nhơn

***

Nguyễn Thị Thanh Dương
Bão Về Texas

Harvey đến Texas
Với sức gió kinh hoàng
Thành phố nhỏ Rockport
Sau một đêm điêu tàn

Biển Corpus Christi
Giờ đã lặng sóng chưa
Những con đường ẩm ướt
Cây gãy đổ bơ vơ

Harvey vào đất liền
Thành cơn bão nhiệt đới
Mưa xuống vùng Houston
Phố chìm trong lụt lội

Mưa như không ngừng nghỉ
Cơn mưa không mong chờ
Tội nghiệp những thành phố
Đắm chìm trong gió mưa

Bảng tên đường che khuất
Biết đi đâu về đâu?
Bốn bề mênh mông nước
Đời như một bể sầu

Con người thành bé nhỏ
Trước cuồng nộ thiên nhiên
Hàng cây buồn tơi tả
Cột điện buồn ngả nghiêng

Thuyền trôi trên phố nước
Trực thăng trên mái nhà
Giúp người dân di tản
Trời vẫn còn gió mưa

Tạm biệt mái nhà yêu
Đến một nơi nào đó
Chờ gió lặng, mưa thôi
Ta lại về chốn cũ

Harvey đến Texas
Mai bão đến nơi nào
Lời chúc lành cho nhau
Được bình yên may mắn.

August 29-7-17
Nguyễn Thị Thanh Dương

***

Nguyễn Đức Nhơn
Mười Năm Nợ Nần

chiều nghe loáng thoáng màu thu
lá xanh níu
lá vàng đu trên cành
ta ngồi tiếc lá màu xanh
nhớ xưa trót lỡ tành hanh với người
ruột gan bày hết ra ngoài
nợ nần nhau biết có đòi được không?
giữa trời
giữa đất mênh mông
giữa ta
em vẫn còn trong tâm hành
giữa ta
còn chút bàng hoàng
giữa em
còn chút lỡ làng duyên xưa
giữa đời
còn chút mộng mơ
rớt trên nỗi nhớ ta vừa mới nhen
giữa đêm
lẳng lặng trước đèn
giữa đêm
lẳng lặng hồn len vào hồn
mười năm
trời!
nợ vẫn còn
mười năm
ta đã thấm đòn rồi em!

Nguyễn Đức Nhơn

***

Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Chiều Không Yên Tĩnh

Anh thấy không mùa hè đâu cần hẹn
Vẫn ung dung tìm đến dẫu không chờ
Chạnh lòng ai một thoáng nhớ vu vơ
Tiếng ve ngân khiến chiều không yên tĩnh

Những cánh cửa vẫn từ lâu khép kín
Nhốt bên trong một khoảng tối u buồn
Và hoàng hôn thầm lặng thẩn thờ buông
Ngày vội vã vì ngày cô đơn quá

Những con đường vừa quen vừa rất lạ
Một thuở nào vẫn đón chúng ta qua
Mưa rơi rơi, không gian ướt nhạt nhoà
Chiều lặng lẽ, tiếng ve như giận dỗi

Bài hát xưa bỗng nhiên buốn quá đỗi
Nơi thẳm sâu hồn em cánh phượng tàn
Mùa hạ về cao nguyên thiếu nắng vàng
Mưa rã rích, sũng ướt tình đơn lẻ…

Hồ Thụy Mỹ Hạnh

***

Yên Sơn
Thời Gian Gõ Nhịp

Thăng trầm với tháng ngày qua
Bao nhiêu trăng khuyết trăng tà còn đây
Ráng chiều vàng vọt chân mây
Mờ xa cánh nhạn gọi ngày dửng dưng

Chung quanh trước mặt sau lưng
Màu thu đã úa trên từng bước đi
Quay lưng ngó lại xuân thì
Chỉ nghe tiếng gió thổi vi vu buồn

Trăng vàng pha đục màu sương
Râm ran dế gọi canh trường dài thêm
Lẻ loi một bóng bên thềm
Khói xanh quyện với bóng đêm… ngậm ngùi

Cuối tháng 7-2017
Yên Sơn

***

Nguyễn Đức Nhơn
Một Chuyến Đi Xa
                          *nhớ ngày bỏ nước ra đi

Ta đi Sài Gòn đã vào thu
Gió cuộn mây về mộng viễn du
Quê cũ ra đi đành bỏ lại
Một cõi trời Nam bổng biệt mù

Ta đi người ấy có buồn không?
Chân trời góc bể còn gì mong
Một ngày trở lại thăm làng cũ
Có ngọn dừa xanh giọt nắng hồng

Ta đi không giả từ bè bạn
Không kịp hẹn hò lúc biệt ly
Ngoảnh lại nhìn em đôi khóe mắt
Đỏ dần theo mỗi bước người đi

Ta đi về phía chân trời đó
Lờ lững trên mây chiều hoang vu
Bangkok! Bangkok! chiều Bangkok!
Sao quá lạnh lùng ngọn gió thu

Ta đi, ta đã đi rồi nhỉ?
Không biết nên buồn hay nên vui?
Phố phường Bangkok đông người quá
Ngoảnh lại nhìn quê bỗng ngậm nguồi.

Nguyễn Đức Nhơn
***

Nguyên Nhung
Nhánh Sông Ngậm Ngùi

Tôi không bao giờ nghĩ mùa hè năm ấy, sau hơn ba mươi năm kể từ ngày từ giã mái trường, chút duyên xưa vẫn còn để tôi lại thấy Toàn trong đêm Hội Ngộ. Đời biền biệt trôi đi như dòng sông, cuốn những con thuyền ra biển xa. Sau khi nối lại được liên lạc với một người bạn cũ, hai đứa hẹn gặp nhau kỳ họp mặt Trường ở Toronto, hội ngộ với các bạn đồng môn trường cũ, để được sống lại những phút giây của tuổi học trò năm xưa.
Cuối cùng, bạn tôi lại không đến được vì một lý do bất ngờ, thế là chỉ mình tôi khăn gói lên đường với một mớ tâm sự ngổn ngang. Chưa bao giờ tôi nôn nao đến thế, như lần đầu tiên năm Đệ Thất được mặc chiếc áo dài trắng đồng phục bước vào ngưỡng cửa Trung Học, cô chị 12 tuổi bỗng thấy mình trở thành người lớn trước mấy đứa em còn đang học Tiểu Học. Hơn ba mươi năm rồi, một quãng thời gian khá dài đủ để cho những kỷ niệm ngậm ngùi và cay đắng đã nhạt nhòa đi, vậy mà chỉ hôm nay thôi, tôi nghe trái tim bừng bừng reo vui những nhớ nhung bao hình ảnh về trường xưa, bạn cũ, nhất là hình ảnh của ai kia một thời đã làm trái tim tôi đắm say, chất ngất, để rồi lòng cũng nát tan khi cuộc tình không trọn.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Từ một chiếc bàn trong góc tối của hội trường đang ồn ào tiếng trò chuyện, thăm hỏi lẫn nhau, tôi đã nhận ra Toàn khi anh bước vào ngưỡng cửa căn phòng lớn. Không thể nhầm lẫn được, dù có đến mấy mươi năm chúng tôi không gặp lại nhau. Vẫn dáng cao cao nghệ sĩ ấy, mái tóc bồng bềnh đã nhuốm màu thời gian, khuôn mặt xương xương và nụ cười phảng phất một nét gì không trọn. Toàn đang bắt tay một vài người quen, tôi đã ngỡ ngàng tưởng mình đang sống trong mơ, một cảm giác lạnh buốt chạy dài khắp châu thân. Hóa ra chàng vẫn còn đó, cái tin chàng bỏ mình trong một trại tù sau năm bảy mươi lăm chỉ là ngộ nhận, bạn tôi đã nghe phong phanh như thế khi ở Việt Nam, rồi kể lại cho tôi nghe. Khi nghe bạn nói, tôi chỉ biết ngậm ngùi và cầu nguyện cho Toàn, biết đâu Toàn đã qua được những phút giây cận kề với nỗi chết.

Hơn ba mươi năm với biết bao khổ ải đẩy xuống cuộc đời, cuối cùng, đêm nay cả tôi và chàng cùng có mặt nơi đây, từ hai ngả đường khác nhau, để tìm về những kỷ niệm dưới mái trường xưa thuở nào. Trong hội trường vẫn ồn ào tiếng cười nói của bạn bè gặp lại nhau, những bàn tay xiết chặt bàn tay, những đôi mắt rưng rưng vì xúc cảm khi không ngờ bao nhiêu năm còn có đêm này. Họ đến đây từng nhóm, từng cặp, có đủ vợ chồng con cái, có người già người trẻ,có những người cô lẻ như tôi, như Toàn, mỗi người mang theo bên mình nhiều kỷ niệm và họ cũng đang đi tìm kỷ niệm, ước mong tìm gặp lại thầy cũ, bạn cũ, những hình ảnh ấy tưởng đã mịt mờ với thời gian, đã tản mát đi khắp bốn phương trời, từ khi chia tay với mái trường thân yêu ấy.

Từ chỗ ngồi trong góc tối này, tôi vẫn không thể nào không nhìn về phía Toàn, nơi chàng đang ngồi với vài bạn cũ. Hình như chưa ai nhận ra tôi, còn tôi thì im lặng tìm kiếm. Thời gian ba mươi năm trôi qua, trông tất cả đã già đi với mái tóc điểm sương, riêng Toàn, vẻ lặng lẽ của chàng đã nói lên chiều sâu của một nỗi đau nào đó khiến lòng tôi ngậm ngùi vô tả. Có thể là nỗi đau từ mối tình đầu không trọn, có thể là sự mất mát thảm khốc hơn từ những cuộc tình sau, sự thay đổi của cuộc sống đã làm chàng mất đi nét vui tươi của ngày trẻ tuổi, tất cả nỗi đau ấy biết cái nào hơn. Thỉnh thoảng tôi thấy Toàn nhìn quanh, tìm kiếm một cái gì đó để rồi lại có vẻ thất vọng khi không tìm thấy gì cả. Không biết anh có đang nghĩ đến tôi như tôi đang nghĩ đến anh đêm nay, và liệu sự gặp gỡ bất ngờ này, có làm tan biến đi hình ảnh cũng như tình cảm đẹp đẽ và dễ thương của tuổi học trò hơn ba mươi năm trước.

Riêng tôi, không phải chỉ đêm nay lòng tôi mới xôn xao như thế, mà đã biết bao nhiêu lần trong đời, dường như bao kỷ niệm êm đềm của những ngày trẻ tuổi vẫn âm ỉ trong lòng tôi, cho hơn ba mươi năm tôi làm cánh chim viễn xứ. Biết bao lần trong căn nhà cô quạnh trong một trang trại miền quê nước Mỹ, tôi đứng lặng nhìn cơn mưa ào ạt đổ xuống cánh đồng cỏ hoang vu, gió lồng lộng hun hút lùa vào khung cửa gỗ trong những ngày mưa bão. Bao nhiêu lần ấy, nước mắt như hòa với nước mưa, tôi nhớ về quê nhà với một nỗi cô đơn khủng khiếp, bên cạnh người chồng ngoại quốc và lũ con hai dòng máu.

Làm sao chồng con tôi có thể chia sẻ với tôi được nỗi nhớ nhung của kẻ xa nhà, khi ở đấy có một góc trời riêng, chất chứa hình ảnh gia đình, bạn bè và những kỷ niệm buồn vui trong quá khứ. Mưa ở đâu cũng là mưa, gió ở đâu cũng là gió, vậy mà trong sâu thẳm của trái tim, tôi không khỏi không nhớ lại tiếng mưa rơi rào rào trên chiếc áo đi mưa một chiều tan học, Toàn đứng đợi tôi ngoài cổng trường, hai đứa đã che chung một tấm áo mưa, lòng vui vui như còn nghe vẳng lại tiếng chế giễu của bạn bè một thuở.

Trên sân khấu, người điều khiển chương trình đang giới thiệu những tiết mục trong đêm hội ngộ, tiếng vỗ tay rào rào, người ngồi chung bàn hỏi tôi câu gì đó làm tôi giật mình ngượng nghịu. Từ lúc biết Toàn có mặt trong đêm hội ngộ, đầu óc tôi bỗng dưng quay cuồng ngẩn ngơ, cảm tưởng đau xót của lần chia tay năm ấy như hiện về trong trí nhớ, suốt cả đời tôi không hề mong mỏi một lần hạnh ngộ.

Định mệnh. Tôi thường tin vào hai chữ định mệnh để an ủi mình khi sinh ra trong một gia đình nghèo với bao điều bất hạnh, dù suốt cả đời tôi chưa hề làm điều gì bất nghĩa. Toàn và tôi gặp nhau thật tình cờ với những bài thơ đăng trên Đặc San của trường năm đó. Anh học hơn tôi hai lớp, là một trong những cây bút khá nổi tiếng với những bài thơ hay. Tôi là người ngưỡng mộ và cũng đang tập tành viết lách, thơ của Toàn như nói hộ giùm tôi những trăn trở của tuổi trẻ về quê hương, khi chúng tôi đang sống trong đất nước chiến tranh, với cái nhìn hoài nghi về tương lai. Hai tâm hồn văn nghệ gặp nhau, quý mến nhau, để rồi thương yêu nhau đó là chuyện tự nhiên của thế giới học trò.

Chỉ có điều là tôi quá vô tư để không nhìn thấy trở ngại, giữa tôi và chàng lại có hai hoàn cảnh khác biệt hẳn nhau. Toàn may mắn sinh ra trong một gia đình giàu, có tiếng tăm trong xã hội lúc bấy giờ, trong khi đó ba tôi chỉ là người lính tầm thường rong ruổi suốt bốn vùng chiến thuật. Mẹ con tôi cứ lẽo đẽo theo ba từ đơn vị này tới đơn vị khác, mãi tới khi đám con khôn lớn cần phải có một nơi cố định học hành, một mình ba tôi ra đơn vị, để vợ con ở lại trú ngụ trong một xóm nghèo đa số là dân lao động, những con đường ngoằn ngoèo trong ngõ hẻm với những mái lá, mái tôn tối tăm, chật chội.

Tôi vẫn nhớ ngôi biệt thự xinh đẹp có tường vây xung quanh trên con đường rợp bóng sao, có giàn hoa tigôn màu hồng nhạt leo quanh chiếc cổng sắt sơn trắng, đấy là ngôi nhà của cha mẹ Toàn. Mỗi lần đi ngang qua đấy, tôi vẫn mang chút tự ti mặc cảm để không dám nhìn vào hai cánh cổng sắt đóng im ỉm. Tôi biết Toàn có một đời sống no đủ và sung sướng, khác biệt hẳn cuộc sống của tôi, đứa con gái nhà nghèo, con một người lính trận, lúc nào cũng đối diện với hiểm nguy và nỗi chết.

Biết tôi nghèo như thế nhưng Toàn vẫn yêu tôi, với tất cả sự nồng nhiệt cuả tình yêu tuổi trẻ, Toàn không hề nghĩ rằng đấy là một trong những trở ngại mà hai đứa gặp phải, để có ngày phải chia tay nhau mãi mãi. Những ngày đi học, Toàn thường đứng chờ tôi trước cổng trường, dù nắng hay là mưa, chàng đưa tôi về trên những lối ngõ quanh co, tặng nhau những bài thơ tuổi học trò thơm ngát tình yêu ngây thơ, trong sáng.

Tôi vẫn hồn nhiên sống trọn vẹn với tình yêu tuổi học trò, dù đôi lần vô tình bắt gặp cái nhìn khinh khỉnh của cô em gái Toàn cùng học một trường với tôi. Mỗi lần bắt gặp Toàn đứng đón tôi ở cổng trường, dù năm ấy anh vừa lên Đại Học, cô bé lại phóng cho tôi một cái nhìn đầy vẻ miệt thị, khiến Toàn cũng ngượng ngùng không biết nói gì cho không khí bớt phần căng thẳng.

Không biết những gì đã xảy ra trong gia đình chàng lúc ấy, nhưng tôi linh cảm có sự chống đốí ngấm ngầm của cha mẹ Toàn, khi biết Toàn đã yêu một đứa con gái nhà nghèo, con của một người lính già không tên tuổi. Tuy biết phận mình, nhưng những cuốn hút sôi nổi của tình yêu tuổi trẻ tôi vẫn không chống đỡ nổi tình yêu đó, chỉ biết cố gắng học để hy vọng trong tương lai, tôi sẽ thoát khỏi hoàn cảnh nghèo khổ hiện tại, nhất là để đỡ đần gánh nặng cho ba mẹ tôi trong lúc tuổi già.

Mùa hè năm ấy, mùa hè có những trận đánh từ nơi chiến trường xa, ba tôi theo đoàn quân tiếp viện cho đơn vị bạn ngoài địa đầu chiến tuyến, cũng để bảo vệ cho những người thành phố được sống một cuộc đời yên vui, hạnh phúc. Sự bất hạnh luôn luôn đeo đuổi những cảnh đời cùng khổ, ba tôi ngã xuống vào mùa hè năm ấy, mẹ tôi đã ngất đi không biết bao nhiêu lần khi dẫn đám con dại đi nhận xác chồng trong nhà quàn của Quân Y viện.

Chiều hôm ấy, cũng một buổi chiều mưa rơi tầm tã, trên mái tóc xanh tôi quấn vội vã mảnh khăn tang, nhìn mẹ bằn bặt trong tiếng nức nở đến xé lòng, rũ xuống như một tàu lá đổ trước nấm mộ của ba tôi. Tất cả là một chấm hết cho đời người góa phụ, là nỗi mất mát lớn lao cho lũ con thơ, kể từ đây, ba tôi đã vắng mặt vĩnh viễn trên cõi đời này, mãi mãi và mãi mãi.

Đêm mưa. Nhìn ảnh ba tôi trong màu áo trận, trên bàn thờ nhòa nhạt khói nhang, tôi vẫn ngỡ ba tôi còn sống và đang băn khoăn, ái ngại cho hoàn cảnh bi đát của vợ con giữa thời buổi chiến tranh, cùng bao nhiêu cạm bẫy, cam go của cuộc đời. Mưa vẫn rơi đều trên mái lá, càng về khuya càng não nùng như những lời tỉ tê, tiếng mưa tí tách từng giọt buồn tênh rớt xuống chiếc thau nhôm hứng những giọt mưa từ mái nhà giột ẩm ướt, như những giọt lệ tủi buồn của đứa con gái mồ côi rớt xuống cõi đời hiu quạnh.

Số tiền tử tuất của ba tôi quá ít ỏi, chỉ đủ cho mẹ tôi mở một tiệm tạp hóa nho nhỏ, bán đủ thứ than củi, mắm muối cho những người hàng xóm trong khu lao động lúc nhúc những mảnh đời khốn khổ. Cái quán nghèo nàn ấy càng ngày càng thâm thủng đi vì sự đau ốm của mẹ tôi, cùng sức ăn của bầy em đang tuổi lớn.

Cố gắng hết niên học, tôi quyết định bỏ học đi làm giúp đỡ mẹ. Mảnh bằng Tú Tài I chưa đủ cho tôi có một hành trang vững chãi bước vào đời, nhưng tôi không thể nào chịu nổi khi mỗi đêm trời giông bão, căn nhà lá nghèo nàn, dột nát như muốn đổ xuống dưới sức gió của đêm mưa, mẹ tôi phải lẩm nhẩm tính toán suốt ngày những đồng thu chi trong cái vốn cỏn con ấy, rồi nó cũng sẽ mất đi lúc nào chẳng biết. Nghĩ đến Toàn và căn nhà xinh đẹp của gia đình chàng, tôi lại thấy nghẹn ở ngực. Tình yêu Toàn dành cho tôi vẫn không thay đổi, vẫn đầy tràn hơn bao giờ hết, nhưng mặc cảm trong lòng đứa con gái nhà nghèo vẫn làm tôi tủi thân, để có cảm tưởng là cả hai đứa khó nắm được tình yêu cho nhau, khi gia đình hai bên quá khác biệt.

Không dễ gì tìm một việc làm tương đối trong thời buổi ấy, là con một tử sĩ, tôi chỉ có thể xin một việc làm khiêm nhượng trong hệ thống quân đội, hoặc làm một chân thư ký đánh máy trong căn cứ Mỹ đang chiến đấu ở Việt Nam. Tôi suy nghĩ rất nhiều, cuối cùng nhờ một người bà con, tôi cũng xin được một việc làm cho quân đội Mỹ. Nói sao cho hết cái mặc cảm của đứa con gái Việt Nam ra vô mỗi ngày nơi căn cứ Mỹ, phải nhận những cái nhìn nghi kỵ phẩm giá của người đồng chủng, nhưng cứ đến kỳ lương cầm những đồng tiền trong chiếc bao thư về nhà cho mẹ, tôi mừng rỡ hơn bao giờ hết, vì biết từ nay có thể thay ba để lo cho lũ em dại.

Nhưng điều ấy lại không đem lại may mắn cho tôi trong tình yêu, khi chính Toàn ngại ngần mãi rồi mới nói cho tôi biết cái trở ngại trong tình cảm của hai đứa, nếu tôi cứ tiếp tục đi làm sở Mỹ. Cái nghèo đã là một cái tội, huống chi đứa con gái nào đi làm sở Mỹ trong thời buổi ấy cũng tự nhiên gánh thêm một cái tội nữa trên đầu, dù chưa làm gì nên tội, nhất là đối với những gia đình trưởng giả, nhiều thành kiến như gia đình Toàn.

Toàn khổ sở vì yêu tôi, vì những thành kiến ích kỷ của gia đình chàng, nhưng liệu chàng có cách gì để giúp tôi thoát ra cái bế tắc của cảnh nghèo hiện tại. Với sự giàu có, dư dả của cha mẹ chàng, Toàn đâu thể hình dung nổi cái khổ của đám người cùng đinh trong xã hội, mà mỗi miếng cơm là những giọt mồ hôi ướt đầm manh áo vá. Chàng làm sao thấy hết được, tôi đã phải gò lưng trên chiếc xe cọc cạch chất đầy than củi, mắm muối, mùi hôi hám của những thứ thực phẩm nhà nghèo ấy làm cho tôi trông càng thê thảm hơn. Có bao giờ trong căn biệt thự sáng trưng ánh đèn, văng vẳng điệu nhạc dặt dìu êm dịu, Toàn có biết lúc ấy lũ em tôi đã phải vật lộn với sách vở dưới ngọn đèn đỏ quạch, không đủ soi sáng cho những hàng chữ của bài học.

Gia đình Toàn vốn đã không ưa tôi ở cái nghèo, nay lại thêm một yếu tố nữa để bắt chàng đoạn tuyệt. Có lúc quẩn quanh Toàn nghĩ đến chuyện hai đứa đem nhau đi thật xa, đến một phương trời nào đó, xa loài người, xa cuộc đời, gạt bỏ tất cả thành kiến hẹp hòi của những người xung quanh. Tôi đâu có can đảm để làm điều ấy, khi nghĩ mình đâu có tội tình gì, nếu không phải chỉ vì nghèo để không được yêu. Hơn nữa tôi còn một bà mẹ đau khổ và một bầy em cần nương tựa, tôi không thể sống chết với một mối tình mà bỏ bê mẹ và các em. Thôi thì đành chia tay, để Toàn được yên tâm học hành và để cha mẹ chàng được vui vẻ sắp xếp cuộc đời của con họ. Tôi ngậm ngùi cắt đứt mối tình học trò, phải nói những lời phũ phàng chát đắng với Toàn để rồi lại khóc vùi một mình trong những đêm không ngủ.

Không biết Toàn nghĩ gì về tôi lúc đó, nhưng tôi chấp nhận xa chàng để được trọn vẹn cả hai phía, cho gia đình tôi cũng như gia đình chàng. Một thời gian sau tôi nghe tin Toàn bỏ học, gia nhập quân đội dù gia đình chàng dư sức lo cho chàng ăn học đến nơi đến chốn. Tôi không hề trách anh, vì cả hai đứa cùng là nạn nhân của một xã hội hẹp hòi ích kỷ, nhưng từ lúc ấy, tôi không còn cái mơ mộng để tin rằng tình yêu sẽ mang đến niềm vui cho cuộc đời, lòng bỗng dửng dưng như giọt mưa buồn tênh rớt xuống hiên nhà rồi trôi đi biền biệt.

Không biết may hay rủi, vào những ngày cuối tháng Tư năm ấy, tôi vội vã rời xa quê hương theo diện nhân viên sở Mỹ, trong một chuyến bay cuối cùng đến đảo Guam. Mẹ tôi nhất định ở lại vì nấm mộ của chồng trong Nghĩa Trang Quân Đội, một thân nơi đất khách quê người, tôi phải tìm nơi nương tựa. Chồng tôi là một cựu chiến binh Hoa Kỳ từng tham chiến ở Việt Nam, nay làm việc trong cơ quan thiện nguyện. Người đàn ông có màu mắt mênh mông như biển khơi, đã chia sẻ với tôi suốt những tháng năm tôi lạc loài nơi xứ lạ, để tôi nguôi ngoai những đau buồn trong quá khứ.

Đêm hội ngộ tiếp theo với màn văn nghệ “cây nhà lá vườn” thật vui mà cũng thật cảm động, tôi có cảm tưởng mình đang dự một đêm liên hoan trong sân trường những mùa hè năm xưa. Trên sân khấu, những người bạn đồng môn muôn năm cũ đang thi thố tài năng của mình, không màu mè kiểu cách.

Tôi ngỡ ngàng thấy Toàn đã đứng trên sân khấu tự bao giờ. Vẫn một cung cách giản dị và vững chãi, Toàn đang nói mấy lời ngắn ngủi về bài thơ của chàng ba mươi năm trước, bài thơ mà chàng đã đọc cho tôi nghe khi hai đứa đứng trú mưa dưới mái hiên một căn phố cũ. Có một cái gì làm tay chân tôi tê dại, nghe được cả tiếng đập của con tim đang thổn thức trong lồng ngực…

“Trời vào mưa rồi em
Mưa sáng, mưa chiều, mưa ngày, mưa đêm
Tiếng mưa nức nở, đau nhức về khuya
Như lời thì thầm anh yêu em…”

Trái tim tôi như muốn òa vỡ khi nhớ lại bài thơ tình ba mươi năm trước Toàn đang đọc trong đêm Hội Ngộ. Làm sao tôi có thể nào quên, từng lời thơ như xoáy vào tim khiến tôi nhớ lại buổi chiều năm ấy, hai đứa che chung một tấm áo mưa, đi dưới trời mưa bay bay khi gió từ bến sông thổi vào lồng lộng. Hai đứa nép vào nhau, nghe ấm áp nồng nàn trong từng hơi thở, từng nhịp đập của trái tim rộn rã, từng tiếng cười khúc khích mặc cho gió mưa lạnh lẽo…

Toàn vẫn say sưa với những âm thanh vang vọng từ ngày trẻ tuổi, như chàng đang lướt nhẹ trong trái tim tôi phím tơ chùng năm cũ cho một cung đàn dở dang, tiếng ngân như những vết đau dù đã hàn gắn với thời gian, sao đêm nay tôi nghe như dư âm tiếng thổn thức của lần chia xa năm ấy. Trên sân khấu, giọng chàng mượt mà trong mấy vần lục bát, nghe như một điều gửi gấm từ trái tim, với một nỗi đau chất ngất…

“Đôi khi nhìn mãi lên trời
Tìm trong mây ảo bóng người năm xưa
Nghe vườn rung lá thu mưa
Lao xao trong nắng lời xưa thầm thì
Kể từ gió cuốn mây đi
Đời xa, xa mãi mong gì thấy nhau…”
(thơ nguyên nhung)

Bài thơ còn dài với giọng ngâm trầm ấm năm nào, như những giọt mưa rơi ướt sũng xuống đôi mắt tôi. Tai tôi như ù đi, mỗi một lời thơ như một giọt nước mắt chảy ngược vào tim khiến tôi ngồi chết lặng. Có phải chàng đang đi tìm kiếm lại cố nhân với chút hy vọng mong manh nào đó, mặc dù tôi đang ngồi trong góc tối này với những giọt nước mắt. Chắc không ai nhìn thấy tôi khóc. Bây giờ thì tôi đã hiểu, trong lòng chàng cũng như trong lòng tôi, cái tình yêu ấm áp và đau đớn thuở ban đầu ấy vẫn không bao giờ tan biến, dù giờ đây cuộc đời hai đứa đã là hai nhánh sông ngậm ngùi trôi theo những bến bờ xa lạ. Xung quanh tôi giờ đây im lặng quá, đâu đây nghe như có tiếng thở dài để xót thương cho một cuộc tình không trọn…

Các bạn đồng môn đang trao nhau những cuốn giai phẩm mùa hè Toronto, ai nấy hối hả và chăm chú lật từng trang, nhìn từng tấm ảnh cũ và mới, họ đang cố tìm một vài nhân ảnh đã mịt mờ trong quá khứ. Cầm cuốn Giai Phẩm với trang bìa là hình ảnh cô nữ sinh kiều mị trước sân trường, những bướm hoa ngày cũ, dãy hành lang vàng đục, từng ô cửa và tiếng phấn rít trên bảng đen như hiện về trong trí nhớ. Tôi thấy tôi ngày xưa, tôi thấy Toàn ngày xưa, tôi thấy những giọt mưa rớt xuống sân cỏ non giăng giăng nhạt nhòa trong mắt tôi một màn lệ mỏng.

Không, tôi không muốn gặp chàng đêm nay, dù chàng đã đến đây, đã khơi lại trong trái tim đau những ngất ngây ngày cũ, những đắng cay của một mối tình học trò đằm đẵm những kỷ niệm xót xa. Kỷ niệm vẫn chỉ là kỷ niệm, khi những nhánh sông đã rẽ ra trăm ngàn hướng đời khác biệt, để mỗi lúc nhớ đến nhau, lòng chỉ vẫn rưng rưng với những hình bóng cũ. Nếu có lúc nào đó, sông bốc lên thành mây, thì tôi mơ được là mưa trên mái trường xưa, một lần nữa xôn xao trên mái tóc xanh tuổi học trò.

Tôi bỏ ra về trước khi đêm hội ngộ bế mạc, không một lần gặp lại người tình năm xưa. Đêm Toronto mát lạnh dù đang giữa mùa hè, suốt đêm tôi chập chờn không ngủ, gần sáng lại thiếp đi với một giấc mơ lạ lùng, nghe như có tiếng mưa rơi rào rào trên tấm áo mưa ngày nào. Mở cửa bước ra ngoài hành lang của khách sạn, tôi mới biết đêm qua trời mưa, những vũng nước mưa còn ướt sũng trên mặt đường, gió từ Ngũ Đại Hồ lồng lộng thổi đem cái lạnh hắt hiu vào lòng người, như cái lạnh của cơn mưa chiều năm xưa.

Thu xếp hành lý ra phi trường cho kịp chuyến bay lúc mười giờ, tự nhiên tôi lại khóc, những giọt nước mắt cứ ứa ra trên viền mi, nào ai biết, nào ai hay. Giã từ Toronto, giã từ bạn bè gần xa, giã từ hình ảnh người yêu thuở học trò một đêm hội ngộ, từ đây cho mãi đến nghìn sau, tôi vẫn là nhánh sông ngậm ngùi, để nuối tiếc hoài hoài những tháng ngày tuổi mộng.

Nguyên Nhung

[/read]

Nguyễn Đưc Nhơn
Tàn Thu

Âm buồn dạo khúc tàn thu
Giọng u trầm khóc biệt mù non xa
Lần theo gậy trúc mù lòa
Ta lên giọng hát bài ca độc hành

Tàn thu ta khóc một mình
Túi thơ bầu rượu xóa hình hài em
Tàu chiều khuất nẻo ga truông
Ta rung đùi nhịp khúc buồn từ ly

Tàn thu con nước thầm thì
Bờ khe rêu phủ xanh rì dấu xưa
Một cành hoa dại đong đưa
Nước dâng tới gáy còn chưa giật mình

Tàn thu em bỗng vô tình
Con dao chém ngược một mình ta đau
Chiếu chăng chừ đã phai màu
Thôi đành ôm mảnh chiến bào qua đêm…

Nguyễn Đức Nhơn
***

Luân Hoán
Một Thời Qua Chợ Miếu Bông

Chợ Miêu Bông nằm cách quê nội tôi một dòng sông nhỏ. Đây là một ngôi chợ ở vùng quê, nhưng có chút hơi thở thị thành, nhờ không cách xa thành phố Đà Nẵng bao nhiêu, và nhờ những chuyến xe đò ngược, xuôi vẫn thường dừng ngay trước chợ. Vào đầu thập niên năm mươi, tôi có hai người bà con, thím Diên và bác Hội Du, buôn bán ở ngôi chợ này.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Chợ đông mỗi ngày một buổi, từ tinh mơ kéo dài đến khoảng hai giờ chiều. Trong thời gian tôi sống ở quê nội, nhiều lúc tôi đã theo những người con của thím và bác tôi lang thang vào ngôi chợ. Thằng Tiên, anh Thoại, anh Lữ chiều nào cũng qua giúp hai bà mẹ thu cất hàng vào khi chợ sắp tan. Trong những lần làm cái đuôi như thế, tôi có dịp ngắm và nghe những sinh hoạt náo nhiệt của chợ búa. Dĩ nhiên sự hiện diện của tôi không phải lúc nào cũng rơi vào buổi chợ tan.

Hình ảnh, âm thanh có thể khác nhau chút ít, tùy thời điểm.Nhưng đặc điểm chung chung của một ngôi chợ làng quê, tôi nghĩ ở đâu cũng bao gồm cảnh hỗn tạp, ồn ào, luộm thuộm, bẩn thỉu, mùi hôi chen với mùi thơm…Riêng với ngôi chợ Miêu Bông, tuy không phải là ngôi chợ thứ nhất tôi được biết, được gặp, nhưng đây chính là ngôi chợ tôi lui tới nhiều nhất, quan sát nghe nhìn được nhiều nhất, và có thể dễ dàng lượm ra một vài kỷ niệm xinh xinh. Với chợ Miêu Bông, tôi không có cái ngơ ngáo như ở chợ Quán Rường, chợ Được…Tôi không có cái cảm giác đi tìm một bóng hồng như ở chợ Đông Ba, chợ Sông Vệ, chợ Tam Kỳ… Tôi không có những giây phút trống rỗng, đi tìm một cốc cà phê như ở chợ Quảng Ngãi, chợ Quán Lác, chợ Tăng Nhơn Phú… Tôi không có cái nhàn du, đi ngắm mọi người mua sắm như ở chợ Bến Thành, chợ Tăng Bạt Hổ…Tôi không có cái phút đi chọn mua hàng hóa, thức ăn như ở chợ Cồn, Chợ Vườn Hoa, chợ Hàn, chợ Tân Định…Tôi không có cái nao nao đứng chụp ảnh như ở chợ Hội An, chợ Vĩnh Điện, chợ Búng…Biết bao nhiêu là chợ tôi đã được ghé qua, nhưng đậu kín nhất trong lòng tôi vẫn là chợ Miêu Bông.

Để săm soi lại những kỷ niệm với ngôi chợ miền quê thân mến, tôi dặn mình hãy chậm rãi, vịn từng đầu mối nhớ tưởng để lần về, được chút nào hay chút ấy, đừng nghĩ quá mau, sống lại quá vội mà tay gõ không kịp, rối cả một đoạn đời.

Chợ Miêu Bông được dựng sát bên quốc lộ số một, trên đoạn đường từ cầu Đỏ, cầu Cẩm Lệ chạy vào Thanh Quýt, Vĩnh Điện, Hội An…Một nền đất sét nện, rộng già-hơn- nửa-diện-tích một cái sân vận động đúng tiêu chuẩn, đỡ một cái nhà lồng đứng vững chãi, trên nhiều trụ gỗ, mập, ốm không đều nhau. Đó là nóc chợ chính, trống hốc cả bốn mặt. Gió từ sông Liêm Lạc thổi lên. Bụi từ Quá Giáng tạt vào, tất cả tự nhiên, phơi phới. Một dòng nắng nghiêng, một dải mưa tạt, như phấn như son, càng làm cho nền đất bóng chắc. Trên cái nền đất mỗi ngày một ấm chân người ấy, được khéo léo sắp đặt những dãy sạp, hàng ngang, hàng dọc, có thứ tự tùy theo từng ô, mà điểm chuẩn thường là những gốc cột. Những khoảng trống làm lối đi lòng vòng, như một sợi dây dài buộc thân thiết các sạp lại với nhau. Không biết có phải đã có cuộc bốc thăm để chọn chỗ ngồi. Hay sự phân chia tùy thuộc vào mặt hàng bày bán. Nhưng dù dưới hình thức nào, trong lòng chợ đã có được một sự sắp đặt thứ tự và hình như ai cũng bằng lòng với vị trí của mình.

Cuộc mua bán như một trận đấu thể thao tích cực. Hàng hóa là vật chơi, như trái banh, con cờ…Hai đội chơi là những đối tượng trực tiếp ra giá, trả giá, và không thiếu những khán giả, góp ý, cổ vũ, động viên. Có lẽ sự so sánh việc buôn bán ở chợ với một cuộc chơi của tôi có phần khập khiễng, thiếu thuyết phục. Nhưng ngày ấy, quả thật tôi đã rất thú vị, khi được chứng kiến những cảnh mua bán tại ngôi chợ quê này.
– Cái áo này giá bao nhiêu đây chị ?
– Năm đồng đó.
– Hả ? Cái áo này có chi mô mà mắc rứa?
– Hàng hộp đó bà ơi, coi kỹ đi!
Cô bán hàng áo quần, nhìn thoáng người khách, đánh giá và mau miệng:
– Bà nhìn nề, không mắc đâu, hàng từ ngoài Hàn vô đó, còn nguyên trong hộp đây nề, hàng làm tận bên tây nhập về, không phải đồ lô đâu. Bà ngó kỹ cái nhãn coi.

Chị bán hàng vừa nói vừa chỉ vào chỗ hột nút cổ đã gài kín. Ngón tay chị ấn nhẹ trên mặt giấy gương trong suốt. Cái ngón tay không thon nhỏ, không sạm nắng của chị cử động nhẹ nhàng, như gãi lên tờ giấy gương. Chị đang suy tính chớp nhoáng để làm cách nào đưa cái áo hộp của chị vào lọt trong cái giỏ xách của người đang trực diện. Trong giây phút nghiêm trọng ấy, chắc chị quên hết mọi việc ở nhà, ở ngay sau lưng. Chị cảnh giác, tập trung để dứt điểm. Nhưng bà mua hàng có lẽ chỉ hỏi giá cho vui buổi đi chợ, nên mau mắn phủi tay bằng một câu hẹn cho có :
– Được, để tôi về dẫn con tôi lại, coi nó có ưng không cái đã.
Bà bỏ đi. Ở ngay bên cạnh đó. Giọng kêu với của một người bán vải:
– Thôi lại đây tôi bán mở hàng cho…hàng bombay của Chà và mà bán giá ni, thiệt là… để vốn làm quen với chị đó.

Rồi không kịp nghỉ hơi, bà hỏi luôn:
– Xé mấy thước ?

Tầm nhìn của tôi không đậu lâu được ở bất cứ một hoạt cảnh nào. Tai nghe, mắt nhìn, mũi ngửi….tôi bỏ lạc cả thằng Tiên. Nhưng không sao, chỗ bán hàng của thím Diên tôi đã biết. Hàng của thím là hàng tạp hóa với cả trăm thứ lỉnh kỉnh. Từ xâu kim găm, hộp kim may, các cuộn chỉ, đến cả vở, viết học sinh. Rồi các thẩu kẹo ú, kẹo mè xửng, kẹo đậu phụng. Bánh in bọc giấy xanh, đỏ, vàng, trắng . Mấy thẩu ruợu trắng, rượu dầm thuốc bắc. Mấy chai bia lùn. Mấy chai nước chanh. Những cái đèn treo bốn mặt gương. Lược sưa, lược dày, lược cài tóc. Kính tròn bỏ túi. Kẹp giắt, kẹp bản dành cho con gái. Dầu cù là. Dầu Nhị Thiên Đường. Dầu Khuynh Diệp Bác Sĩ Tín. Thuốc Dán Con Rắn. Thuốc Tiêu Ban Lộ. Thuốc Ách bi rin. Thuốc Ga ni đăng, Anh Côn Đờ mân. Giấy vàng bạc. Hương thẻ, hưong khoanh. Đèn cày trắng đỏ số 1, số 2. Quạt giấy, quạt mo. Chổi chà, chổi lông gà…vân vân và đủ thứ, phong phú vô cùng. Cái thế giới ấy, cái sạp hàng ấy của thím Diên thật vui mắt, thật thu hút, tôi tưởng như đang sờ thấy và nắm chắc trong tay giọng nói trầm trầm của thím:
– Con ăn bánh gì không ? Lấy kẹo đậu phụng cho anh ăn đi Tiên.

Tôi không qua chợ để ăn vặt. Nhưng nhiều lần tôi được ăn như thế, từ hàng thím Diên, từ hàng bác Hội Du. Bởi bác cũng có một giang sơn giống hệt như thím Diên. Thằng Tiên, anh Thoại, anh Lữ thường dựa vào tôi để ăn ké, dù quà bánh vốn là của gia đình họ.

Tôi đang đi lần ra hướng quốc lộ. Người mua kẻ bán vẫn chen chúc sát bên tôi. Chung quanh nóc chợ chính, rất nhiều chòi nhỏ với đủ loại mái, tranh, tôn, chen nhau ngó vào lòng chợ. Những người buôn gánh, bán bưng, ngồi, đứng, đi trong những khoảng trống họ thấy thích hợp. Trong đám này, tôi bắt gặp vài ba người có bộ tịch rất lạ. Khác hẳn với những người chung quanh. Họ vừa ngọng nghịu mời khách, vừa ngờ nghệch dòm quanh quẩn. Họ nói ít, quan sát nhiều. Thỉnh thoảng nắm giữ vành nón mình như sợ gió bay. Rồi có người vụt đứng dậy, nhanh nhẹn bưng cái rổ hàng nho nhỏ của mình, lách thật nhanh đi chỗ khác. Tôi thấy có một người như vậy bị một ông nắm tay kéo lại. Tuy đứng không xa, nhưng cái ồn ào của một ngôi chợ đang đông, tôi không nghe được người đàn ông nói gi. Ông lên tay xuống ngón rồi xé một mẩu giấy màu xanh, cầm sẵn trên tay, dán lên nón người đàn bà vừa lách đi không kịp. Thì ra ông ta là người đi thu thuế chợ và người đàn bà kia chỉ là một người đi bán bất đắc dĩ. Ở nông thôn, nhiều gia đình tằn tiện, gà đẻ được vài chục trứng, không để ấp, không dám ăn mà mang ra chợ bán, để kiếm ít đồng mua thêm chút mắm, chút dầu. Hoặc vườn nhà ổi, chanh… thuận nắng vừa mưa sai quả, lại mang ra chợ. Cũng có trường hợp trong nhà có người đau ốm cần chút tiền mua thuốc thang, đành kiếm một cái gì để mang ra bán. Lợi tức từ những món hàng như thế thường chẳng đáng là bao, nếu phải bị đánh thuế, không còn gì xót lòng hơn. Tôi chưa hiểu biết gì về cuộc sống. Chưa biết ái ngại giùm ai. Nhưng rõ ràng tôi thấy mình không ưa người đàn ông thu thuế. Tò mò tôi lách theo ông xem thử ông còn chộp được ai nữa, trong khi trên nón những người quanh tôi đều đã có một miếng giấy nhỏ xanh hoặc đỏ.

Mùi cá tanh xông vào mũi, tôi định tháo lui khỏi khu vực bán cá. Nhưng tức thì, ngay sát chân tôi, bà già bán cá giở cái trẹt ra khỏi miệng một cái rổ có trét dầu rải. Tiếng cá quậy nước kéo đôi mắt tôi xuống. Một rổ lúc nhúc cá đồng. Tôi bắt gặp những con cá rô nghiêng nghiêng trên mặt nước. Vài cái mình cá diếc bạc trắng ngất ngư lật ngửa. Chắc chắn phải có cá tràu, cá ngạnh… nằm phía dưới, Không chừng có cả cá lia thia. Tôi nhón gót dòm cá quậy liên tục. Sợ cá nhảy ra ngoài, bà bán cá đậy lại rồi giở ra liên tục gây chú ý đến người mua. Tôi thất vọng không nhìn thấy con lia thia nào. Mùi “Giấy Một Đồng Vàng” chợt thơm lừng. Tôi sờ tay lên túi áo, còn nguyên. Trong khoảnh khắc, tôi nhớ rõ hình vẽ một người đàn ông, ở trần, đội nón, gánh một gánh dưa đầy trên tờ giấy bạc. Với tờ giấy nhỏ này, tôi mua được những con lia thia, nếu có.

Thằng Tiên, từ phía sau vỗ mạnh vào ngang hông tôi một cái cùng một tiếng “hù!” đi theo liền tiếng cười như nấc cụt của hắn. Tôi giật mình quay lại, tiện chân đá nhẹ vào ống quyển hắn. Thằng Tiên giả vờ qụi xuống rồi đứng vụt dậy nheo mắt làm trò. Tôi nhìn thằng em họ bé loắt choắt cười theo. Với cái đầu bự, tóc rễ tre, cắt ngắn, tia tỉa như một đám cỏ, thằng Tiên rất nghịch ngợm, ma lanh. Hai vành tai trên hơi xừng ra, rất ngộ nghĩnh. Mặt mày sáng sủa với cái miệng cười suốt ngày. Từ hôm tôi hồi cư, không ngày nào hắn không tìm tôi. Chỉ cho tôi nhiều trò chơi mới như bắn bi, búng dây thun…và thường kéo tôi qua chợ. Có lần, cũng ở chợ này, hắn mua cà-rem-cây rồi phỉnh tôi:
– Anh cắn mạnh vào, nhai thật mau kẻo kem chảy hết.

Mới ở núi về, đâu đã ăn cà rem bao giờ, tôi tê buốt cả răng, cả miệng lưỡi, ngấu nghiến cho mau hết cái cục nước đá ngọt dài thòng ấy, không thấy ngon lành gì cả, chỉ chực nhả ra, nhưng lại thấy tiếc của lạ, nuốt vội. Trong lúc mặt mày thằng Tiên tỉnh bơ. Hắn ngó chăm bẳm vào miệng tôi, và không ngớt hỏi:
– Ngon không, ngon không anh?

Khi tôi nuốt trôi miếng cắn cuối cùng, hắn mới vùng lên cười, bỏ chạy. Mãi đến vài ngày sau, tôi mới biết cách thưởng thức ăn cà-rem-cây, rõ là dân ở núi.

Chúng tôi đã rủ nhau ra ngoài bìa chợ, lân la đến gần một ông già xem bói. Thằng Tiên coi bộ rất khoái ông lão này. Đã nhiều lần, hắn ngồi chồm hổm dưới đất, ngó sững cái miệng ông ta nói khi có khách. Hôm ấy, ông thầy bói ngồi một mình trên một cái đòn gỗ thấp như thường lệ. Trước mặt ông là một cái chõng tre nhỏ. Bề dài chừng một thước. Bề ngang cỡ năm tấc. Bề cao độ ba tấc, thấp hơn cả hai cái đầu gối của chính ông ta. Năm sáu lá bài gồm đầm, già, bồi, ách với đủ mặt rô, cơ, bích, chuồn, được sắp một vòng cung trên mặt vạt giường. Số bài còn lại được úp mặt trong một cái chén nhỏ, có hình vẽ con gà trống trên vành chén. Một cây quạt giấy màu tím bầm, được xếp cẩn thận, đặt gần bên cái chén đựng bộ bài. Ông thầy bói đeo kính trắng trông rất đạo mạo. Ông mặc cái áo bà ba màu trắng, đã ố vàng, nhưng không rách. Những hột nút trên áo ông cũng đặc biệt. Chúng như những hột cườm ngà ngà, to bằng cục gôm cây bút chì. Cái quần ông thầy bói mặc không đen hẳn mà cũng không nâu hẳn. Với tuổi chừng năm mươi, tôi thấy ông như một dân quân ở chiến khu hơn là một ông lão. Ông thầy bói cầm một cuốn sách gì đó trên tay. Thỉnh thoảng ông lật vài trang trong khi ánh mắt vẫn quét ra đường. Ông đang rình khách. Cặp môi ông chực cười nhiều lần nhưng hé không ra. Hình như ông chỉ quan tâm đến nét mặt những người đàn bà qua lại, chợt nhìn vào ông, vào cái chõng tre, thỉnh thoảng có vài con ruồi mỏi cánh đậu vài giây.

Tôi có cái tật nhìn cái gì cũng nhìn rất kỹ, dù ánh mắt tôi không để yên lâu trên bất cứ vật nào. Ông thầy bói chưa có khách. Cái nắng chín, mười giờ của tháng bảy đã bắt đầu hôi hổi. Chúng tôi xê dịch vào trong một chút, chạm một chòi bán đồ vàng mã. Tôi rất thú vị khi ngắm các hình tượng con ngựa, mũ, hia, quần, áo… làm bằng giấy ngũ sắc sặc sỡ. Hồi đó tôi chưa có trí khôn bao nhiêu và cũng chẳng có nguyên nhân nào để nghĩ đến chuyện sinh tử. Những nhu cầu vật chất của đời người sinh thời không có khả năng, chết rồi có được bù đắp ? Không chỉ những gia đình khá giả mới sắm cho thân nhân khuất bóng những vật dụng tươm tất. Nhiều nhà chật vật vẫn một vài lần gồng mình, để tạo cơ hội cho những người mình thương yêu, tiếp tục nuôi ảo tưởng sẽ có một giai đoạn sung mãn, giai đoạn đó có thể ở trong cõi chết. Thật là quí.

Thằng Tiên không thích sạp hàng thợ mã. Hắn kéo tôi đi. Hai đứa rúc dọc, luồn ngang trong chợ. Có lúc lấn đụng người này kẻ kia nhưng chẳng ai phàn nàn. Lại ló ra bìa một phía khác. Đụng vào khu vực ăn uống. Những gánh thức ăn với đầy đủ thúng gióng đặt gần nhau. Gánh cháo lòng. Gánh bánh tráng hến. Gánh mì Quảng. Gánh đậu hũ. Gánh xu xoa…Rổ bánh nậm. Rổ bánh bột lọc bọc con tôm. Rổ bánh ít…phong phú thức ăn và dồi dào thực khách, phần đông là mấy bà. Chúng tôi sớm dội ngược xa khu này. Lảng vảng không khéo có người cho mình đi ngó miệng. Vòng tới, vòng lui, chúng tôi lại trở ra gần mặt lộ.

Từ vòng đai chợ, tôi nhìn qua bên kia đường. Một dãy nhà vách xây, có cái lợp ngói, có cái lợp tôn nằm liền vai nhau, dọc theo con đường nhựa xám xám. Tất cả các căn nhà này đều là những cửa hàng. Trong vóc dáng khang trang cao ráo, những mặt hàng hình như được chọn lọc, và chưng bày có phần sáng sủa hơn bên chợ chính. Tôi cũng nhìn thấy một tiệm hớt tóc đang có khách. Hình như ông thợ đang đè cứng đầu một thằng bé, trạc tuổi tôi, để cạo sau ót. Tiệm thuốc bắc đứng sát bên. Một người đàn ông đứng trước dãy thẩu gương, nhưng bị lấp từ bụng trở xuống vì một cái tủ dài đen thui. Ông ta cầm một cái cân thật nhỏ, mở một nắp thẩu. Một người đàn bà đứng nghiêng hông ra đường, đang theo dõi từng cử động của người đàn ông. Cạnh tiệm thuốc bắc là một quán ăn. Một chồng bánh tráng nướng, vài xâu bánh ú, treo ngay phía trên cái bàn nhỏ, đặt gần cửa ra vào. Không biết quán bán chính món gì. Tôi chưa thấy có khách vào.
Một chiếc xe đò, từ hướng cầu Đỏ, lịch xịch, ép sát lề, dừng ngay trước mặt quán ăn. Chú lơ xe bu phía sau đã nhảy xuống mặt đường. Chú không lo giúp những bạn hàng vội vã bưng thúng gióng xuống xe, mà không ngớt chào mời những con buôn, những hành khách đang từ trong chợ chạy vội ra. Một cái xe đò khác, ngược chiều, từ Thanh Quýt ra, dừng cách chỗ chúng tôi đứng một thước. Cảnh xuống xe, lên xe diễn ra giống hệt như cảnh vừa rồi. Nhanh chóng, ồn áo, như một đám ruồi đang đậu yên bị động bay vụt lên.

Chợ có phần đông hơn. Nhưng chợt lặng đi trong vài giây. Tôi không ngạc nhiên lâu, khi thấy một nhóm lính Tây từ đồn Quá Giáng kéo vào chợ. Lính Tây hay lính Quốc gia vào chợ Miêu Bông đã là chuyện thường, bởi vì đồn Quá Giáng cách chợ Miêu Bông chỉ chừng hơn năm trăm thước. Lính vào chợ có thể là đội hỏa vụ, đi mua thức ăn tươi. Hoặc cũng có thể là những người đi dạo chơi trong lúc chưa có công vụ. Dẫu là chuyện thường, nhưng chợ Miêu Bông luôn luôn dành một vài phút giật mình như vừa rồi. Nguyên nhân này có lẽ bắt nguồn từ ngày tôi chưa hồi cư.

Chuyện qua cũng chưa lâu lắm. Tôi nghe lóm nhiều người kể. Hồi đó ở đồn Quá Giáng, có một viên chức người Việt trong đội ngũ commando, ông được thăng đến chức quản. Và vì có tục danh là Chiếu, nên được mọi người gọi là Quản Chiếu. Theo lời đồn, ông Quản Chiếu là một thanh niên mặt mũi khôi ngô nhưng tính khí thất thường. Ông được người Pháp tin dùng vì sự tàn bạo độc đáo của ông. Ông thành danh mau chóng là một hung thần của nhiều làng thôn kế cận đồn Quá Giáng, trong đó có cả làng quê nội Liêm Lạc của tôi.

Đồn Quá Giáng nằm sát quốc lộ số một. Đây là một trong những chốt được người Pháp bố trí dọc theo quốc lộ. Ngoài nhiệm vụ giữ đường, đơn vị đồn trú ở đây còn có nhiệm vụ tảo thanh, lục soát, phát hiện và tiêu diệt những mầm mống phản động trong tầm địa bàn hoạt động. Doanh trại đồn Quá Giáng không rộng lắm, không kiên cố bao nhiêu, nhưng trong suốt mấy năm kháng chiến chống Pháp, hình như đồn này chưa lần nào bị tổn thất nặng.

Đồn gồm có doanh trại và lô cốt. Lô cốt (blackhaus), là một công sự được xây đúc bằng bê tông cốt sắt kiên cố. Bề dày và độ cứng phòng chống được nhiều loại đạn. Chung quanh có chừa nhiều lỗ châu mai để tác xạ. Doanh trại gồm một nhà ngói nhỏ và một dãy nhà tôn thấp, xây cất trên một vạt đất vốn là đất ruộng được đắp cao. Chung quanh khu vực được khai quang, để rộng tầm quan sát. Tất cả bản doanh này đều được nhiều lớp hàng rào kẽm gai bao bọc. Dĩ nhiên cùng với kẽm gai còn có những trái mìn, trái lựu đạn được gài đặt khéo léo. Cách đồn Quá Giáng không xa có một cây cầu sắt vững chắc nhưng chỉ dài chừng năm chục thước. Cây cầu này và dòng nước khiêm nhường bên dưới chính là mồ chôn của rất nhiều người dân vô tội, mà đao phủ, phần nhiều là ông Quản Chiếu trẻ tuổi. Cũng theo lời kể, ông Quản Chiếu không chỉ có ngón tay trỏ sở trường bóp cò. Mà thú vui của ông là dùng dao cắt cổ, và phải cắt thế nào để nạn nhân giữ được mạng cho ông mua vui lần sau. Làng tôi có một thanh niên bị ông cắt cổ đến ba lần, vào ba thời điểm khác nhau, nhưng vẫn không chết. Máu huyết con người có biết ca hát, reo vui, hay toả thơm một mùi hương đặc biệt, để cho một người nào đó có tính khí đặc biệt phải thèm khát, nghiện ngập ? Nghĩ về máu có mùi hương, tôi không thể không nhớ đến những ông Hường, ông Phan, các anh Thiều, anh Hiểu… của nhà văn Nguyễn Văn Xuân. Máu quả thật có mùi hương, và nhiều trường hợp tác dụng khác nhau.

Ông Quản Chiếu không sống lâu. Dân làng tôi kể, ông có một người cha có đạo đức, một người anh hiền lành. Nhân một ngày giỗ của gia đình. Người anh đã bàn với người cha nên để anh ta ra mặt khuyên nhủ Quản Chiếu theo về con đường thiện. Người cha vẫn ngại, nên giấu người anh trong buồng, chờ ông thuyết phục trước. Nghe nói ông Quản Chiếu hôm ấy có ít nhiều vui vẻ và cởi mở với cha, nhưng ngay sau khi biết có sự hiện diện của người anh, ông đã đổi thái độ, và tức khắc, rút dao phóng vào buồng. Chẳng rõ vì sao, hôm đó là lần rút dao cuối cùng của Quản Chiếu.

Sự thực của câu chuyện, đáng tin được bao nhiêu phần trăm tôi không rõ. Ngắm nghía vài mảnh kỷ niệm với ngôi chợ Miêu Bông, tôi lại nhắc đến một ông Quản Chiếu nào đó, cũng giết người mà không được đặt tên đường, tên phố, có lẽ hơi phí giấy, nhưng biết làm sao. Quản Chiếu đã từng vô chợ Miêu Bông, đã từng cắt cổ người, để thưởng ngoạn màu máu ở ngay ngôi chợ này không phải là ít lần. Có thể có người đã bỏ mạng trên một sạp hàng xén, trên một quầy thịt nhỏ…đâu đó trong ngôi chợ này. Hồn họ vẫn ở đây, bên những trụ cột, trên những rui, mè, kèo, rượn tím bầm màu thời gian.

Chẳng phải điều gì cũng trở thành kỷ niệm. Cũng chẳng phải kỷ niệm phải vì một điều gì to lớn. Dù đã xa quê nội, đã không còn nhiều dịp ghé qua chợ. Miêu Bông vẫn không tằn tiện cho tôi những cơ hội nhớ tưởng. Đó là những dịp tôi về thăm làng bằng xe đò, trong những buổi chiều.
Một vài buổi chiều như vậy, sau khi xuống xe, tôi thường rúc vào lòng chợ. Thay vì đì băng qua để xuống bến đò, tôi thong thả ngồi lại bên một chiếc chõng tre, hay một mặt bàn gỗ, ngó loanh quanh. Chợ đã tan từ bao giờ. Trong cái trống hốc bày ra thật rõ những cái thân thương nhất, gắn bó nhất với ngôi chợ. Sự èo uột, ốm yếu của từng vật thể, níu giữ, bám víu lấy nhau để tạo thành một tổng thể thật thân thiết đáng thương, Cái tổng thể này lại ấm mùi đất, đậm mùi cây lá, thoang thoảng mùi sông nước, dễ gì phai tan. Những con ruồi tôi chợt thấy. Những mẩu rác tôi chợt nhìn ra, đỡ tôi đứng dậy, dìu tôi đi quanh. Tôi tìm lại trên nền đất âm thanh nhịp bước trước đây của mình. Không mất đâu. Chẳng mất đâu, tiếng nói của một thời chìm lẫn đâu đó. Tôi sẽ tìm ra ngay thôi. Những tiếng mặc cả, những tiếng cười, lẫn những tiếng chửi bới. Có ngôi chợ nào mà không như vậy. Nhưng có chợ nào giống chợ nào ở cái hồn cái vía của nó. Một lần tôi đã dựa vào một cây cột chợ, bình thản quẹt diêm châm một điếu thuốc. Khói mỏng chờn vờn, tôi trông ra như chùm mây, cứ theo đó mà ngó ra. Con đường quốc lộ từ Cầu Đỏ như đang dẫn về một đám gió. Một chút ít bụi vu vơ mà tôi chợt thấy được cái ngày tôi cùng thằng Tiên trèo lên xe lục lộ chở đá, để ra dòm mặt mũi cái cầu Đỏ, vốn đã được sơn đen từ thời nào. Ngày đó, đoạn đường này nằm trong giai đoạn xây dựng chưa hoàn tất. Anh rể tôi, Anh Kiều Văn Kiểm, chồng chị Sáu Hường là ông cai trông coi, điều động công việc chở đá, đổ đá, nghiền đá đấy mà. Anh Kiểm vui tính, thỉnh thoảng lại cho tôi và Tiên ngồi trên các cục đá rong chơi. Và chỉ cần nhích mắt lên một tí, tôi đã thấy ngôi nhà của hai con bạn Đỏ, Đen. Hai con bạn đã từng cho tôi thấy tất cả những gì quí giá của chúng, dù chúng lẫn tôi, ngày ấy chưa hiểu hết những hữu dụng của vưu vật.

Miêu Bông. Chợ Miêu Bông, lạ nhỉ, sao tôi chưa làm cho địa danh thân thương một bài thơ ? Gọi tên Miêu Bông, nhắc tên Miêu Bông trong thơ thì không sót. Nhưng trải tình làm thảm cho ngôi chợ sống đời cùng thơ, thì tôi lỡ quên. Đã cuối đời rồi. Xin cho tôi tạ lỗi. Hãy mặc cả, hãy cười nói, hãy văng tục, hãy chửi gào, hãy thơm cùng hoa trái, hương, trầm, hãy tanh tưởi cùng thịt cá, rác rến…Và cứ mặc kệ tôi.

Thấy chưa, ít câu lục bát bất ngờ đã hoàn tất lúc 9 giờ 4 phút sáng, ngày 15 tháng 11. Montréal Nord đang có những giọt tuyết bông đầu tiên của mùa tuyết năm 2005. Xin gởi về Chợ Miêu Bông vời vợi xa.

bay vù về chợ Miêu Bông
ai mua tôi bán chút lòng vân vi
chẳng biết mua lại những gì
vói tay vẫn đọt xuân thì hôm xưa…
hái, thành chùm nắng, chùm mưa
rồi thành chùm nhớ đong đưa chùm buồn
cất vào lòng ủ mùi hương
cho ấm lỗ rún, cái xương cuối đời
trẻ, già tôi vẫn là tôi
nằm, bò, chạy, nhảy, đứng, ngồi… nhớ thương

Luân Hoán

[/read]

Nguyễn Đức Nhơn
Chào Thua

chập chờn
nửa tỉnh
nửa say
nửa yên phận bạc
nửa cây cú đời
theo em suốt mấy năm trời
chưa nghe em nói một lời yêu ta!

biết em
nửa chính
nửa tà
nửa nâng niu
nửa chà đạp nhau
than trời
trách đất được sao?
thôi đành
ngả mũ cúi đầu chào thua!

Nguyễn Đức Nhơn

***

Songthy
Hạnh Phúc Người, Hạnh Phúc Ta!

Cõi trầm luân đời ngoi mầm sống đẹp
Chốn tịch liêu ta hát khúc hoàn sinh
Vì trong ta máu lệ luôn chuyển mình
Rơi nước mắt là lặng thinh tâm sự

Chuyện tình yêu đã đi vào huyền sử
Thiên mệnh nào lực tận giải chưa xong
Nắng gió quanh đây se sắt cõi lòng
Mai trời sáng cuộc đời còn tiếp nối

Hạnh phúc người, ta cưu mang mấy nỗi
Hạnh phúc ta, ai có thể lo toan
Phải chăng đời người vốn dĩ bất toàn
Tâm hạnh phúc khi lòng ta buông bỏ.

Songthy

***

Nguyễn Đức Nhơn
Gởi Người Phương Xa

Cho dù không gian ảo
Cũng đủ để yêu đời
Cũng thường đêm mơ thấy
Một bóng người xa xôi

Sài Gòn xa vạn dặm
Nhịp cầu nào đủ dài
Nối hai bờ nhung nhớ
Nối hai bờ đông tây

Đêm thường đêm mơ mộng
Vơ vẫn ngoài chân mây
Những vần thơ êm ả
Rót vào lòng đêm say

Nắng giữa chiều Dallas
Sao lạnh buốt tâm hồn
Cho xin một đóm lửa
Về sưởi ấm hoàng hôn

Bài thơ không đoạn kết
Gởi cho người xa xôi
Như đôi vầng nhật nguyệt
Như những vầng mây trôi…

Nguyễn Đức Nhơn

***

Lê Vũ Trường Giang
Hồng Hoang Biển

Tôi rất thương Mẹ mỗi lần nhìn thấy khối cơ thể ấy vỡ vụn ra, nát tan từng mảnh trong ngôi miếu cũ. Mẹ nằm đó, trong cỗ quan tài bằng gương nhiễu điều phủ đỏ. Thân thể Mẹ màu xanh biển sớm, trong như màu mắt ngư phủ ngày cá đầy khoang. Phía bên trái quan tài, xiêm y màu phỉ thúy của Mẹ ánh lên thứ dung nghi trầm kha của đại dương sâu thẳm. Dân làng Việt Hải tôn thờ Mẹ, một niềm tin khả hữu của những đứa con suốt đời dầm mình trong gió mặn và biển chát. Mỗi lần cha tôi đi biển dài ngày thường đến miếu viếng Mẹ với một mâm lễ chuối, cau trầu, rượu và những thỏi trầm. Tôi thường xách giỏ đồ cúng chạy theo cha đi lễ, tất tả và hồn nhiên như một cơn sóng con.
“Nghề đi biển là vậy, phải có người chở che sóng gió. Nếu không cũng sớm làm mồi cho cá thôi”, cha nói.
“Thế Mẹ là ai hở cha?”
“Một nữ thần cưu mang những ngư phủ như chúng ta, những đứa con của Mẹ.”
Cha bắt đầu kể về Mẹ khi chúng tôi lạo xạo bước đi trên cát chiều khô gió. Giọng cha trầm xuống kính cẩn, một thứ giọng đầy hương muối, mùi liêu trai tôi chưa từng nghe bao giờ.
“Dân tộc ta gọi mẹ Âu Cơ là quốc tổ mẫu, thì Mẹ Thái Dương là Mẹ nuôi của làng ta đấy.”

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Mẹ là cô gái làng biển có số phận bất hạnh. Cô yêu nhầm anh trai bị thất lạc, kết làm vợ chồng, biết chuyện, người anh ân hận bỏ đi khi cô đã mang thai. Nhớ chồng, ngày ngày cô ra biển đợi chồng về, nước mắt hòa vào dòng biển mặn. Cô cứ ngồi mãi như thế cho đến khi hóa thành khối đá xanh nằm bên Bãi Lạc hoang vắng.
“Chuyện buồn cha nhỉ?”, tôi nói. Sau này tôi mới biết, ai kể về Mẹ cũng thổi vào đấy cả một bể thiêng liêng, ngập tràn lòng biết ơn vô hạn về đấng cứu rỗi đầy bao dung của biển dành cho những ngư phủ nghèo. Những đứa con tôi về sau cũng gióng tai lên nghe tôi kể về Mẹ như thế khi tôi đã xế chiều.
Cha kể tiếp, vẫn nuôi cái giọng cũ nhưng tươi sáng hơn. Một người ngư phủ lương thiện, sống côi cút một mình, không nhà không cửa, nghèo rớt mùng tơi, ngày ngày kiếm sống bằng nghề chài lưới. Ngày nọ, biển động dữ dội, trời tối đen như bưng, người ngư phủ đi ra biển, buồn quá, lại thấy khối đá nằm trên cát liền gối đầu lên mà ngủ quên. Giữa đêm, anh nằm mộng thấy người đàn bà mang thai lay đầu mình dậy bảo rằng “Ta là Thai Dương phu nhân, sao ngươi dám dựa vào ta như thế?” Người ngư phủ hoảng sợ tỉnh giấc, vội vàng khấn vái trước phiến đá mà nói rằng: “Con quê mùa ngu dốt, xin thần xá tội. Xin giúp cho con ra biển thuận lợi, tôm cá đầy ghe.” Quả nhiên, hôm đó người ngư phủ đạt được ý nguyện như lời cầu xin. Ông liền lập một miếu nhỏ lợp tranh để thờ khối đá và gọi là Thai Dương phu nhân. Sau, dân chài ở làng Việt Hải thấy làm lạ, hỏi ra mới biết sự tình bèn chung tiền của, xây dựng một cái miếu khang trang rồi rước phiến đá về phụng thờ. Từ đó, nữ thần giúp đỡ rất nhiều cho dân làng, đi biển hầu như chẳng bao giờ trở về tay không, ghe thuyền cũng không gặp nạn bão tố nữa. Mỗi lần họ cầu xin điều gì đều được Thai Dương phu nhân giúp đỡ như ý. Tôi bỗng thấy Mẹ rất gần, như có thể nhắm mắt lại, ước gặp Mẹ và khi mở mắt thì Mẹ hiện ra trước mặt rồi.
Cha chợt dừng lại, mặt hướng ra biển nhìn những chú chim hải âu chao nghiêng mặt nước xanh. Lão Thoại nghêu ngao đi dọc Bãi La, mồm không ngớt chửi đổng. Gặp cha tôi, ông giơ tay nói.
“Họ sẽ đến, sẽ đến đấy…”
Tôi nhấp nhỏm tránh con sóng to vỗ vào bờ cho khỏi ướt chân, tránh cả lão Thoại đang đứng ngáng đường. Cha chẳng nói gì, chỉ chìa tay ra nắm lấy tay lão. Lão Thoại nở một nụ cười rất kín, rồi đi mất. Tôi nhìn cha đứng lặng một hồi, làn da sạm đen vì nắng gió, đôi mắt vời vợi xanh.
“Sao cha không nói gì thế?”
Cha cười, rồi nắm lấy tay tôi đi về hướng Hòn Rùa.
Câu chuyện về Mẹ kết thúc khi hai cha con tôi bước qua những hòn đá đen lấp xấp sóng để vào miếu. Những hòn đá đen đều có một vết lõm như mắt. Những con mắt thuở hồng hoang biển. Những con mắt ấy chứa chan hình ảnh Mẹ.
“Mẹ mang thai nhưng chưa sinh ra con, thế nên tất cả dân làng Việt Hải đều là con của Mẹ” – cha tôi nói.
“Cha và con cũng vậy phải không cha?” – tôi ngập ngừng hỏi.
“Ừ, chúng ta là những đứa con nuôi của Mẹ Thai Dương. Mẹ sẽ che chở chúng ta thoát khỏi cơn hoạn nạn.”
Đến bây giờ, câu nói của cha ngày nao vẫn mãi là điểm tựa lớn. Tôi nghĩ đến mộ trứng ngỗng và những con tàu gớm ghiếc ngoài kia, lòng như lửa đốt. Những ý nghĩ cứ bám riết tôi, cha tôi khi bước qua những tảng đá đen để vào ngôi miếu nhỏ vững chãi giữa lưng chừng Hòn Rùa, bốn bề cây phủ xanh kín.
“Xin Mẹ phù hộ cho chúng con giữ yên cuộc đất này, giữ yên biển và những ngày mai”.
Tôi nghe hơi thở biển hổn hển từng nhịp bước chân đi. Tiếng hải âu xao xác ngoài xa, dậy lên thứ men xanh ngày mai của những chuyến tàu kín chật ngoài khơi.
***
Muốn biết đại dương bao la thế nào chỉ có lên Hòn Rùa mới biết được. Hòn Rùa đập vào trí tưởng thơ bé của tôi là một khối núi xanh nhô ra biển, nơi có miếu Mẹ Thai Dương mà tôi rất thích đến. Khối núi xanh ấy có hình dạng như một chú rùa biển. Mai rùa là cả rừng cây dương cổ thụ nối với đất liền bằng một dải cát mỏng, đầu rùa là khu nghĩa trang, ngực rùa giữa lưng chừng là miếu Mẹ Thai Dương trấn biển và những dấu chân rùa đây đó còn lại những hòn đá đen khổng lồ dưới chân núi. Mỗi năm nhà chúng tôi chỉ lên Hòn Rùa một lần để chạp mộ tổ tiên, đó là quy lệ. Trên đỉnh Hòn Rùa là một nghĩa trang thờ cụ kị khai canh, khai khẩn cho đến những vị kiệt hiệt, có công với làng Việt Hải đều nằm trên ấy. Nằm thoải sau đầu rùa là một ngôi mộ hình trứng ngỗng khổng lồ, một nửa nổi lên mặt đất, xưa xây bằng hợp chất ô dước, vôi, mật mía, cứng như đá, rêu phủ xám xịt, to phải bằng một đống rơm lớn chướng cả lối đi. Xung quanh quả trứng ngỗng ấy là một vòng tròn đất đen, nhô lên như một thứ ranh giới ma quái. Xưa, người làng tôi sợ mộ yểm, không dám bước chân qua khỏi vòng đất đen để vào khuôn viên khu mộ đó. Nó như một trái núi nhát giữa Hòn Rùa. Các cụ xưa đã nghĩ ra cách rất hay để dẹp cái trứng ngỗng ấy đi. Mỗi khi ai có việc lên Hòn Rùa, đi qua đấy phải mang một hòn đá hay nắm đất tấp vào mộ. Lâu dần, cái trứng ngỗng bị lấp mất. Giờ thì cái mộ ấy phủ một lớp đá đen, cây cỏ mọc lên như một trái núi hoang. Có lần đi tảo mộ, tôi chạy băng qua vòng đất đen, lấy tay bới đất đá, cha thấy vậy hét lớn: “Đừng, con…!”, như thể tôi sẽ nổ tung tức khắc. Tôi hỏi cha: “Mộ của ai thế hở cha?”. Cha im lặng, về nhà mới kể cho tôi nghe. Thế là, mỗi lần lên trên ấy, tôi khệ nệ bưng một hòn đá thật to, rồi đặt lên mộ trứng ngỗng, lòng dạ hả hê lắm. Có khi tôi còn lôi đám trẻ làng hì hục mang đất đá lên để lấp cho kì hết. Những chuyện ấy giờ thành kí ức, thứ kí ức lửa hun đúc nội chất tôi, biến tôi thành một người con biển như bây giờ.
Bên trái Hòn Rùa là mộ của cụ khai canh nhà tôi, một ngôi mộ nhỏ hình chữ nhật, viền cánh sen xung quanh, vôi vữa mục nát đến không thể biết xây từ đời nảo đời nao. Mộ cụ xung quanh có la thành đắp thấp, bốn phía gắn trụ sen. Phần quynh sau mộ nhô cao, ở đó một cây bồ đề hoang mọc lên, che tán xanh phủ kín ngôi mộ. Nghe người làng nói, cụ nhà tôi rất giỏi phong thủy, cụ bảo Hòn Rùa đích thị là thế “kim quy trấn hải”, nhưng là quy bị chột một mắt. Vì là người có công với làng nên khi chết cụ xin được chôn vào con mắt sáng để giữ lấy khí thiêng. Cụ còn vẽ cả địa đồ thủy khí chỉ cho dân làng những nơi có long mạch để táng những người có công trạng vào đấy, làng sẽ hưng khởi.
Tôi luôn nuôi ý nghĩ một ngày nào đó sẽ nằm trên phiến đá phẳng như thớt dưới bóng cây bồ đề trên đỉnh Hòn Rùa, gác tay lên trán và đếm trăng sao ngoài biển rộng. Khi tròn mười hai tuổi, có lần một mình tôi chạy lên đỉnh Hòn Rùa vào một đêm trăng sáng tháng Năm. Ở trên ấy, tôi được nghe tiếng đại dương thao thiết hiền hòa giữa trăng sao giăng kín bầu trời. Trong thảm ánh trăng bạc, những đoàn người bước đi nhấp nhô ngoài khơi xa như một phép màu. Họ bước đi trên nước như ta đi trên đất, họ nhảy nhót, hát ca rồi khuất dạng sau những con sóng to tấp tập ghé bờ. Có lần tôi hỏi cha:
“Sao chỉ lên viếng mộ các cụ có một lần thôi cha?”
“Hòn Rùa bị yểm”, cha chỉ nói vậy. Nếu có hỏi thêm một câu nào nữa, cha sẽ cáu tiết lên như đụng phải vết thương sâu thẳm nào đó của cha trên ấy. “Đi mà hỏi ông mày ấy”, cha bực mình nói. Tôi mang máng điều gì đó khi nghe dân làng Lạc Dương ở kế bên bảo thỉnh thoảng lại thấy Hòn Rùa phát ra thứ ánh sáng đỏ trong đêm tối. Người làng nghe vậy càng thấy sợ.
*
Tôi ngồi bó gối trên bãi cát dài trắng xóa những hàng dương, nhìn xa xăm vô số ánh chớp xé tan trời mây xầm xập phía Đông. Mắt tôi vằn vện tia sét tức bờ duyên hải. Tôi thấy ông nội ngồi đó, dáng một lão ngư lồi lõm đê chài, da ông hăng hắc mùi biển mặn. Tôi rất thích dựa vào người ông để hít thở cho kì hết cái vị ấm nồng ấy. Điếu thuốc rê vấn víu trên tay, ông đưa lên phà làn khói mảnh dấu xóa những bóng thuyền xa xa. Một buổi chiều yên, ráng hoàng hôn nhuộm tím bao đầu sóng lơi lả vỗ lên bờ. Tôi ngồi bên ông, nhìn biển. Ông khoác tay lên vai tôi như khoác lên vai một người bạn đồng thuyền.
“Chớ thấy non cao mà sấp mặt, thấy biển rộng sông dài mà xoay lưng!”, ông nói.
Tôi gật đầu nhìn ông.
“Rồi cháu sẽ gánh vác công việc của biển cả.”
Ông rít điếu thuốc.
“Đó là sự vinh quang.”
Tôi trầm ngâm.
“Cháu đã vạm vỡ ra rồi đấy. Ngày kia cháu sẽ được cha cho ra biển.”
“Thật không ông?”, tôi mừng quýnh.
Bầu trời trôi nhẹ trên đầu, tôi cố xua tan đi lớp lớp mây đen bằng hồi ức của những cơn gió thổi nghiêng hàng dương cuối làng.
“Cháu biết biển đang làm gì không?”, ông nhìn tôi, hỏi.
“Nó chuẩn bị đi ngủ đấy ông ạ.”, tôi nói.
Ông cười hiền từ:
“Không, biển đang hát đấy. Cháu nghe xem. Biển nói với chúng ta rằng: “Biển rộng mặc biển, thuyền chèo có ngăn.”
Một tiếng bước chân lọt thọt sau lưng. Tôi quay lại, dáng lão Thoại nhem nhuốc trong khoảng tối chạng vạng. Lão buông tiếng.
“Ông về lúc nào thế? Trên ấy có vui không?”
Không ai trả lời. Lão ngồi đánh phịch xuống bên tôi, móc chai rượu đế ra uống suông.
“Họ sắp đến phải không ông?”, lão hỏi ông tôi nhưng chỉ có tiếng sóng gào đáp lại.
***
Đúng như lời ông nói. Hai hôm sau, cha kêu tôi vào nhà pha ấm trà. Cha bảo sẽ cho tôi ra biển cùng cha. Tôi mừng quýnh, chợt nhớ đến ông nhưng chẳng muốn kể điều gì về ông cho cha nghe cả. Cha trầm ngâm, nhìn về Hòn Rùa, cha nói.
“Trên đó đầy máu.”
Tôi lập tức dập ngay cái ý nghĩ nằm trên tảng đá phẳng ngắm nhìn trăng sao.
“Rất nhiều người đã chết ở đó.”
“Ai hở cha?”
Cha châm điếu thuốc hút. Khói thuốc phả vào tóc cha, trong thoáng chốc tôi cứ nghĩ cha bước ra từ sương khói.
Chiều hôm đó, cha nói muốn thử sức tôi. Muốn đi biển phải gánh được thuyền nan, gánh không được thì ở nhà nhé. Tôi lọ mọ đi theo cha ra Bãi Lạc. Thuyền nhà tôi nằm đấy, vạm vỡ trong nắng chiều. Cha bảo tôi kê vai một bên mạn thuyền, ở đấy đã có một kèo gỗ nhô ra để tỳ vai.
“Con nâng lên thử nhé”, cha nói. Tôi vận hết sức mình, nâng thuyền lên như nâng một khối đá. Cũng may tôi bơi biển hằng ngày, hai ba tiếng liên tục vẫn không biết mệt là gì. Vậy mà khi nâng thuyền vai tôi đau điếng, xương như muốn nhũn ra. Cha bảo.
“Xoạc chân ra, đứng thế tấn mới vững được.”
Tôi làm theo, quả nhiên thấy vững hơn. Cha hô một tiếng, vai tôi nhấc thuyền lên được một khoảng.
“Khá lắm, cha khen, xoay nhé!”
Tôi chẳng biết xoay là gì. Cha hét lên cho tôi nghe rõ.
“Cha làm trụ, con xoay thuyền đi!”
Tôi nhớ những động tác mỗi lần mang thuyền ra khơi của những ngư dân làng tôi. Vai tôi gồng lên, một lực đẩy như sóng vỗ lên thân tôi, hai chân xoạc tấn rồi khép lại, tôi thoăn thoắt đi xe trên cát, xoay một vòng tròn trong khi cha bình thản đứng một chỗ. Thuyền nan đặt xuống, cha cười hiền. Tôi cũng cười. Vậy là vai tôi đã đủ cứng cỏi đứng thành trụ một bên giúp cha nâng thuyền ra biển, tay tôi đủ sức cuốn lưới đầy cá. Cha bảo tôi.
“Khuya đi biển với cha. Đi quen cha sẽ cho đi tàu xa bờ. Ngoài ấy hay lắm.”
Rồi cha bảo tôi đem mâm lễ theo cha lên miếu Mẹ Thai Dương xin ra biển.
Ba giờ sáng hôm sau, cha đánh thức tôi dậy. Tôi vác dầm, lưới đi trong trời đêm đầy ánh sao. Cha con tôi và hai người khác trong xóm gánh thuyền nan ra biển. Trời tối đen như mực. Khi thuyền ra xa độ 10 hải lí, mẻ lưới đầu tiên kéo lên. Mẻ lưới đầu tiên đời ngư phủ của tôi. Cha nói.
“Con thử kéo đi.”
Tôi vận hết sức mình tời lưới. Lúc ấy, những tia bình minh đầu tiên le lói mặt biển. Lưới đã sát thuyền. Một đàn nục, ớt mó, ghẹ đỏ, tôm càng chen chúc nhau nằm trong lưới. Tôi hét lên.
“Con đánh lưới được rồi!”
Cha cười hiền hậu. Cả ngày hôm đó, thuyền chúng tôi còn cất ba mẻ nữa, đánh đến khuya thì cá đầy khoang, chúng tôi quay thuyền vào bờ. Trời vừa hửng sáng. Tôi nhìn xuống đại dương thăm thẳm một màu, mắt ngóng đoàn người kì lạ nhấp nhô trên biển thuở trước sẽ hiện lên. Cứ như thể sự tưởng tượng ấy sẽ cho tôi một kí ức nào đó về hồng hoang biển.
***
Cha hứa tháng sau sẽ cho tôi đi chuyến đánh bắt xa bờ bằng tàu công suất 650cv. Tôi mừng thầm, chợt nhớ tới chuyện Hòn Rùa và cái trứng ngỗng xấu xí kia, tôi hỏi cha. Cha bắt đầu kể về Hòn Rùa bằng một thứ giọng cương mãnh, rất đỗi tự hào. Làng Việt Hải êm đềm tận hưởng cuộc sống của một làng chài sung túc. Đầu thời Nguyễn, các đảng cướp Tàu Ô bắt đầu hoạt động mạnh dọc duyên hải nước ta. Một ngày kia, chúng đổ bộ lên làng Việt Hải cướp bóc. Quan binh ở xa, dân làng tính thế chống không lại được liền rủ nhau chạy lên Hòn Rùa trú ẩn. Chúng đuổi theo truy sát, rất nhiều người đã chết trong rừng dương cổ thụ. Toàn bộ tài sản của cả làng bị chúng cướp sạch, đốt sạch. Bọn Tàu Ô ấy máu rất lạnh, hễ ai chống cự liền bị chém chết ngay. Người làng Việt Hải không sợ sóng sợ gió nhưng lại sợ cướp. Liệt tổ của con khi ở trên đỉnh Hòn Rùa đã nói.
“Chúng đốt nhà, ta đốt tàu.”
Nói xong tập hợp những tráng đinh khỏe nhất, bơi lội giỏi nhất theo liệt tổ xuống bái yết Mẹ Thai Dương xin phù hộ. Đêm đó, bọn Tàu Ô ăn uống, phá phách thỏa thuê trong làng. Thừa cơ đó, những dũng sĩ Việt Hải lặn xuống biển bơi ra tàu. Chỉ trong tích tắc, mấy chiếc tàu gỗ lớn của giặc Tàu Ô bốc lửa cháy phừng phực trong đêm. Chúng tức mình kéo nhau lên Hòn Rùa định trả thù. Lũ Tàu Ô thật ngốc, chúng không đi bằng doi cát mà đi qua miếu Mẹ Thai Dương. Ngôi miếu đêm đó bỗng phát ra ánh sáng xanh huyền ảo, hào quang của ngọc thể Mẹ. Giặc tranh nhau vào cướp, tên chủ tướng lúc ấy mới ra uy bảo đem hòn đá lại. Hắn lấy rìu bổ mấy nhát vào khối đá vì nghĩ trong ấy có ngọc. Đá vừa vỡ tan từng mảnh nhỏ, hắn cũng hộc máu chết tại chỗ. Tôi mới hiểu vì sao ngọc thể Mẹ bây giờ rời rạc từng mảnh thế kia. Mẹ Thai Dương đã trừng phạt hắn, bảo vệ con dân của làng. Đám lâu la sợ quá bỏ chạy ra ngoài. Trời tối như bưng, chúng va vào nhau, ngã đập đầu vào những vết chân rùa đá đen. Liệt tổ khi ấy dùng ốc u thổi vang kiêu hùng, hô hào dân làng ném đá, phóng lao xuống. Nhiều tên gục chết tại chỗ. Bọn còn lại cuống cuồng bỏ chạy. Sáng ra, dân làng xuống miếu, một vùng biển loang đỏ. Người làng thấy tội nghiệp khiêng xác chúng lên chôn sau Hòn Rùa, máu thấm khắp núi.
Lão Thoại khi ấy đi qua con ngõ nhà tôi, miệng lẩm bẩm.
“Họ đã đến đấy, đến thật rồi!”
Ngắt quãng, lão lại than, “Khốn!”, rồi đi mất.
***
Thi thoảng Mẹ lại lên gặp tôi với đôi mắt buồn da diết. Mẹ như một dáng liễu mỏng manh, dung nghi cao quý, chầm chậm bước dọc Bãi Lạc rồi đi vào bến miếu. Ở đó có hòn đá đen tôi ngồi mòn suốt tuổi thơ, chỉ vì muốn được gặp Mẹ, Mẹ là thật, không phải là chiêm bao. Hôm đó, Mẹ mặc một chiếc áo Nhật Bình màu phỉ thúy, có thêu loan ổ, đầu đội khăn vành, lưng khoác áo choàng màu đỏ tía, đi hài thêu loan. Gió mặn tạt từng tiếng kêu gào lên dáng Mẹ. Một tỳ nữ mặc áo dài rêu, tay cầm lọng đỏ theo hầu. Xa xa, đoàn tùy tùng với cờ lọng, nghi trượng nhấp nhô trên sóng nước. Một tiếng ốc ù rền thiết bi ai, át đi cả tiếng gió gào, sóng dội. m thanh kéo dài, đâm xuyên qua hàng dương Bãi Lạc, khảm sâu lòng người nỗi sầu lụy của đại dương xanh thẳm. Tâm trí tôi như làn khói mảnh, tản ra bốn bể mênh mông.
“Con sẽ dong buồm ra khơi chứ?”
Mẹ hỏi.
“Dạ, con…”, tôi bỗng im lặng.
“Biển là tặng vật”, Mẹ nói.
“Dạ.”
Mẹ lại hỏi, “Con muốn gì nào?”
Tôi buột miệng nói, “Con tàu sắt có quả đấm thép. Mẹ cho con được không?”
Mẹ nhìn tôi cười.
“Rồi con sẽ có được hơi thở mát trong của biển.”
Tôi nói như van xin.
“Lâu rồi con không gặp ông nội”
Mẹ cười, “Ông luôn ở bên con mà.”
Nói xong, Mẹ đi vào miếu. Màn đen nhập nhoạng xuống nhanh, kéo theo chút mơ hồ trống trải. Tôi bước nhanh về nhà, để không phải làm phiền Mẹ nữa, Mẹ Thai Dương đầy ân huệ.
***

Cha nói, “Ông là người rất vĩ đại.”
Ông có thể bơi cả ngày mà không biết mệt. Thời trai trẻ, có lần ông bơi ra tận hạm đội xa tới bốn năm hải lý chỉ để xem chúng trông hiện đại thế nào. Ông luôn ở bên tôi ngày bé. Giờ lớn rồi tôi chợt nhớ lời ông “chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo”, nhớ cả tấm địa đồ thủy khí mà ông tìm được, duy nhất hiểu được.
Có lần, tôi hỏi ông.
“Địa đồ thủy khí là gì thế ạ?”
“Bảo vật để trấn biển?”
Tôi dạ vâng.
Năm tôi bảy tuổi, mấy tháng trời làng tôi thất bát, thuyền về không cá, người đi không về. Biển xâm thực nhiều chỗ dọc Bãi La, nhiều hộ phải chuyển nhà. Dân làng Lạc Dương bên cạnh bảo Hòn Rùa tỏa ánh đỏ, nhìn vào rất đau mắt mỗi đêm. Khi sóng còn cách nhà tôi một khoảng ngắn đủ để thấy hơi nước bay vào trong nhà, ông bái lạy tổ tiên, lấy tấm địa đồ thủy khí ra. Ông ngồi như vậy suốt một ngày trời không ăn uống. Hôm sau, ông xách một giỏ đi lễ Mẹ, vai vác thêm cuốc, xà beng đi về phía Hòn Rùa. Tôi khi ấy còn nhỏ, ông bảo ở nhà, ông về sẽ cho quà. Ngày hôm đó, tôi ngồi chơi, nghe một tiếng nổ nhỏ ở phía Hòn Rùa. Tối hôm đó, ông mình trần trùng trục về nhà, người ông toát ra mùi thơm kì lạ. Ông nói.
“Xong việc rồi. Làng yên rồi.”
Rồi ông lên giường nằm ngủ một giấc dài. Cha đi biển về chỉ còn biết quỳ lạy, khóc nức nở bên ông.
Người làng kể lại, ông lên Hòn Rùa dùng cuốc đào 4 hình nhân gỗ ở bốn góc mộ trứng ngỗng. Lại lấy xà beng cạy một thanh thép dài 4 thước sau quynh. Một tiếng nổ vang lên, nước phun lên cao mát rượi, một làn khí thơm lan tỏa quanh những hàng dương cổ thụ. Đêm đó, cả làng ngát thơm ngây ngất. Đến bây giờ tôi vẫn nhớ mùi hương ấy. Sau ngày đó, sóng lùi xa nhà tôi, biển không còn xâm thực làng nữa, tôm cá về đầy thuyền, làng Việt Hải vui đời sống mới. Cả Hòn Rùa xanh màu ngọc bích, đêm đêm tỏa sáng như một ngọn hải đăng mà người làng Lạc Dương quả quyết thấy rõ ràng sau cái ngày ông tôi lên phá yểm. Hòn Rùa mãi xanh ngát một màu cổ sử. Tôi muốn gọi tên những cơn mơ đầy hà bám.
***
“Con tàu sắt có quả đấm thép.”
Tôi đừng ước mơ như thế. Gần đây biển dậy sóng. Tàu làng tôi hễ ra biển là gặp họ, đông như kiến cỏ, hung hãn và cường bạo.
“Con muốn ngồi trên con tàu sắt có quả đấm thép”, tôi nói với cha. Cha tôi gật đầu đồng ý.
“Con nhớ trở về, đừng như ông nhé!”, giọng cha chợt mặn chát.
Một bàn tay vỗ nhẹ lên vai tôi. Một hơi thở mạnh phả vào gáy tôi, ngập ngụa mùi sóng, gió, mùi của đau thương, mùi của chia lìa, chua xót.
“Họ sẽ đến. Nhưng họ sẽ phải cút đi. Bọn cướp nước. Tay tao chưa bao giờ chịu buông súng xuống! Tao thề đấy, khi tao còn ở đảo.”
Hơi thở ấy tản ra. Tôi quay lại, bóng lão Thoại liêu xiêu đi trên cát. Lão đang nấc lên cho nỗi cay đắng ngoài kia, nơi lão cũng từng là một chiến binh dạn dày sóng gió và đã ngậm ngùi khi họ đến. Sóng vỗ dưới chân tôi, những con sóng giấu lửa.
Một tiếng ốc u xa vắng chiêu hồn tôi trong đêm tối. Tiếng ốc u kiêu hùng đã thổi mòn những bãi cát vàng, phiêu diêu cùng những chiến thuyền giong buồm ra bể. Hồng hoang biển mở ra trước mắt một màu xanh phẳng lặng. Con tàu không còn mắc cạn trong bóng mắt những kẻ chỉ biết đợi chờ.
Ngày mai, tôi ra khơi.

Lê Vũ Trường Giang

[/read]

***

Nguyễn Đức Nhơn
Giấc Mộng Cuối Đời

Ta sẽ dựng một chòi tranh nho nhỏ
Bên cạnh dòng suối nước chảy êm êm
Ta sẽ rủ một vài thằng bợm nhậu
Đến cùng ta bày tiệc rượu thâu đêm

Ta sẽ bẫy vài con chồn, con thỏ
Đợi cuối tuần ướp sả ớt xào lăn
Đám bạn bè còn đứa nào chết dở
Hãy về đây cùng uống rượu ngắm trăng

Ta sẽ vào tận rừng sâu, núi thẳm
Bới rễ cây mà tìm thuốc trường sinh
Khi buồn chán thì giả làm hảo hớn
Đốn cây rừng mà dựng trại Lương Sơn

Ta sẽ tạc tượng em trên đỉnh núi
Mượn mây trời dệt nốt mảnh xiêm y
Và sẽ mượn sao trời đêm lấp lánh
Kết thành xâu chuỗi ngọc lưu ly

Cho em lộng lẫy trên ngôi Hoàng Hậu
Và ta sẽ là một Quân Vương
Sẽ diễn nốt vở tuồng thiên cổ
Rồi trở về cùng cát bụi, mù sương!

Nguyễn Đức Nhơn

***

Nguyễn Xuân Thiệp

Đường Bạch Dương
Chiều Không Quán Trọ

Mưa tháng bảy. Mưa của đất trời. Mưa trên cõi người. Những tiếng mưa buồn dội xuống mái âm dương, nơi những hồn chết trở về thăm nơi chốn cũ. Và thơ chiêu hồn cũng thấm cái lạnh nghìn trùng của những giọt mưa rơi. Mà nói tới thơ chiêu hồn là phải nói tới trường thi Chiêu Hồn Ca Thập Loại Chúng Sinh (CHCTLCS) của Nguyễn Du.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Năm 1979, ở Thành Đá Xanh Thời Trung Cổ, trại tù thuộc huyện Thanh Chương, Nghệ Tĩnh, trong không khí của Chiêu Hồn Ca tôi viết Thảo Nguyên, trong có mấy câu:
cha đã đi qua vùng thảo nguyên
những năm ấy. trời làm đói khổ
kẻ sống người chết đều trơ xương
lại thêm khắp bốn bề giặc giã
muôn oan hồn dấp dúi lang thang
nương trăng. nơi đầu sông cuối bến
ngày gầy xơ. lất phất mưa phùn
đường bạch dương. chiều không quán trọ
hành nhân. hành nhân. đêm thu phân
Tất nhiên, người đọc cũng thấy tôi đã mượn mấy chữ “đường bạch dương” của Nguyễn Du trong CHCTLCS. Có thể nói, Chiêu Hồn Ca là tuyệt tác của Tố Như, bên cạnh Đoạn Trường Tân Thanh. Nó còn gần với dân tộc hơn, và mang tinh thần nhân bản của Phật Giáo. Đời sau, các thi sĩ khi viết tả không khí bi thương ảm đạm của mùa thu, nơi âm dương chập choạng, kẻ chết và người sống chừng như đã hẹn nhau để chu tất những món nợ ân tình từng mang theo xuống lòng đất -trong bầu khí thê lương mưa thu lạnh buốt ấy, ít ai không nghĩ tới thơ chiêu hồn của Nguyễn Du.
Hôm nay, nhân mùa trai đàn chẩn tế, dưới bầu trời tháng bảy mưa thu, nên chăng chúng ta cùng đọc lại đôi đoạn đôi khúc trong CHCTLCS. Đọc và nhìn lại những chặng đường u minh lịch sử vừa qua.
Để mở đầu cho bản trường ca bi thảm và nhân ái này, Nguyễn Du viết: Tiết tháng bảy mưa dầm sùi sụt / Toát hơi may lạnh buốt xương khô / Não lòng thay, buổi chiều thu / Ngàn lau nhuốm bạc, lá ngô rụng vàng… Đường bạch dương bóng chiều man mác / Ngọn đường lê lác đác mưa sa / Lòng nào lòng chẳng thiết tha / Cõi dương còn thế nữa là cõi âm… Và lập tức, cánh cửa thiên thu mở ra -cõi trường dạ tối tăm trời đất…- những hồn oan phiêu bạt trở về tìm ánh lửa nhân gian. Chưa bao giờ chúng ta thấy văn chương của Nguyễn Du -như ở đây, dù đối tượng là những linh hồn của cõi âm- lại gần với đời sống đến thế. Tố Như tiên sinh vẽ ra trước mắt chúng ta khuôn mặt u buồn của thập loại chúng sinh -nói là chúng sinh nhưng ở đây chỉ thấy những mặt người, và gọi là thập loại nhưng có đến mười mấy hạng người trong xã hội được gọi hồn về. Với chúng ta, cộng đồng người Việt đã trải qua những biến động kinh hoàng của lịch sử và chiến tranh tàn khốc, để rồi phải bỏ nước ra đi tìm đường sống, đọc lại CHCTLCS của Nguyễn Du, chúng ta đặc biệt xót thương những cô hồn xiêu tán. Trước hết là những người lập chí cao -chí những lăm cất gánh non sông…- nhưng gặp “thế khuất vận cùng, mưa sa ngói lở” để rồi “máu tươi lai láng xương khô rụng rời… ” Với chúng ta ngày hôm nay, đó là những vị tướng như Nguyễn Khoa Nam, Lê Văn Hưng… đã vị quốc vong thân. Tiếp đến là những cấp chỉ huy trong quân ngũ -Khi thất thế tên rơi đạn lạc /Bãi sa trường thịt nát máu rơi … Và rồi thời gian lạnh lùng trôi qua – Mênh mông góc bể chân trời / Nắm xương vô chủ biết rơi chốn nào? Hơn thế nữa, xót thương biết mấy, vong hồn của những chiến sĩ vô danh trong cuộc chiến dài gần hai chục năm ở quê nhà. Những người từng “Nước khe cơm vắt gian nan / Dãi dầu nghìn dặm lầm than một đời / Buổi chiến trận mạng người như rác / Phận đã đành đạn lạc tên rơi / Lập lòe ngọn lửa ma trơi / Tiếng oan văng vẳng tối trời càng thương!..” Mặt khác, CHCTLCS của Nguyễn Du còn nhắc tới số phận oan khốc của những người tù: “Cũng có kẻ mắc đường tù rạc / Gửi mình vào chiếu rách một manh …” Đọc đến đây, chúng ta không thể nào không thương tưởng tới hàng trăm ngàn anh em của chúng ta sau 1975 đã phải chịu cảnh ngục tù Cộng Sản và nhiều người đã gởi nắm xương tàn nơi ven rừng, dốc núi. Cũng vậy, khi Nguyễn Du tả những hồn oan chết sông chết biển -Cũng có kẻ vào sông ra bể / Cánh buồm mây chạy xế gió đông / Gặp cơn giông tố giữa dòng / Đem thân chôn rấp vào lòng kình nghê- chúng ta nghĩ tới hàng trăm ngàn người chạy trốn CS, chấp nhận cái chết giữa muôn trùng sóng dữ… Trong mùa trai đàn, cúng tế này, xin dâng tuần nhang, bát nước cho những hồn u khốc ấy.
Quả thật CHCTLCS đã gợi ở chúng ta biết bao tưởng nhớ và xót thương. Và thời tiết tháng bảy mưa ngâu cũng là thời điểm để trở về với quá khứ bi thương của dân tộc, nghĩ tới những anh em đồng đội đã nằm xuống trên khắp nẻo đường đất nước và trong các trại tù CS, nghĩ tới những thuyền nhân đã đắm chìm ở Biển Đông… Làm sao quên được. Vâng, đúng vậy. Ngày hôm nay, chúng ta được sống ổn định sung túc trên xứ sở tự do này, chúng ta không thể nào tự cho phép mình quên anh em đồng đội và đồng bào ruột thịt. Chính quá khứ đã làm nên hiện tại. Quên quá khứ là quên hồn, quên xác. Chúng ta lẽ nào quên..

Nguyễn Xuân Thiệp

[/read]

***

Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Thật Và Ảo

Tôi lạc vào khung trời ảo, khi mà tôi muốn thoát ra khỏi những hệ lụy của đời thường. Nơi mà tâm hồn tôi có thể xoải cánh bay vào một cõi không phải của mình nhưng có mình. Tôi gặp một bài thơ thật hay, chính xác là gặp một trang blog của một tác giả với những bài viết mà tôi đọc với một cảm xúc tràn dâng. Với niềm đa cảm, tôi thấy như mình thấu hiểu tâm trạng của người viết nên những dòng thơ ấy.Con mưa nào không phải của tôi mà buồn da diết thấm vào tôi.Khoảng trời nào đã mất của ai mà khiến tâm hồn tôi chùng xuống. Làm sống lại trong tôi những ảnh hình dịu dàng xa khuất, một bài thơ ngắn cô động như một khúc bi ai của kiếp người đang hiển hiện trước mắt tôi như một tiếng than, như những thanh âm vọng mãi trong lòng người với bao niềm nuối tiếc.

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] Như mọi lẽ thường tình, tôi đặt tay vào bàn phím, tôi viết về cảm xúc khi đọc bài thơ Mưa của ai đó bằng sự rung động vì có chung một niềm nhớ tiếc. Sau đó gởi ngay cho một địa chỉ của một tờ báo mà tôi biết…
***
Duy gọi điện thoại về cho tôi từ một nơi xa xôi, đêm lặng thầm trong tiếng mưa rào rạt ngoài hiên và nỗi buồn tiềm ẩn trong lòng tôi trỗi dậy. Anh với bề bộn công việc, anh với những toan tính còn dở dang chưa thành. Tôi lặng lẽ lắng nghe anh như lắng nghe tiếng lòng tôi,
Duy dặn “Em đi ngủ sớm và làm việc ít lại, cần gì cứ nói với anh…“
Đôi lúc tôi tự hỏi tôi cần gì ở anh?Tôi chưa là gì của Duy, không một đính ước, chỉ là một tình cờ muộn màng như hai mảnh ghép cô đơn ngẫu nhiên trùng khớp sau những nghiệt ngã của cuộc sống. Anh nói rằng anh yêu tôi và tôi cũng đã nói với anh như vậy. Để ngày tháng cứ trôi đi không biết là bao nhiêu, đôi khi chợt tính trên đốt tay, tôi ngỡ ngàng “Đã lâu vậy sao? Mối tình của tôi đã nhiều tuổi vậy sao?…”
Duy dặn “Em nhớ cài cửa cẩn thận rồi mới đi ngủ nhé, xã hội bây giờ dầy dẫy cái ác…”
Anh tắt máy khi trời đang về sáng, tôi không nhắc anh đừng thức khuya như thế tổn hại cho sức khỏe, vì tôi biết anh sẽ nói, có lúc hơi gắt gỏng “Anh biết lượng sức của mình, em không phải nhắc… ”
Bóng dáng hạnh phúc như một điều không có thật đối với tôi, vì nó như một ánh cầu vòng xa tận chân trời ảo ảnh.
***
Bài tôi gởi cho báo được đăng, tôi nhận được hồi âm từ người biên tập của báo, rằng bài viết của tôi thật xúc động, người ấy nói đã rơm rớm nước mắt khi đọc qua những dòng đầy cảm xúc của tôi, dĩ nhiên tôi rất vui vì biết như thế và muốn nghe rõ hơn nhận xét về tác phẩm của mình. Tôi viết mail cho người biên tập ấy.
Trên đời vẫn thường xảy ra những việc bất ngờ thú vị, khi tôi được biết người biên tập ấy cũng chính là tác giả của bài thơ Mưa mà tôi đã chép vào sổ tay.Tôi nhắn cho Thi, người biên tập của báo và cũng là tác giả bài thơ tôi thích, tôi nói: “Thật không có gì vui hơn khi bắt gặp một tâm hồn đồng điệu”…
Thi cho tôi nickname của anh và dặn “Khi nào buồn thì hãy tán gẫu với anh… ”
***
Duy báo cho tôi biết anh đang chuẩn bị ra phi trường để đi tập huấn ở New Zealand hai mươi ngày. Tôi chỉ kịp dặn anh nhớ giữ gìn sức khỏe và khi đến nơi phải phone ngay về cho tôi.
Những cơn mưa bao giờ cũng làm cho bầu trời như thấp xuống và nặng trĩu, u hoài như lòng tôi. Duy không nhắn gì cho tôi sau hơn một tháng dài, tôi biết anh đã về và lại say mê với công việc của mình. Thật ra nếu Duy không đi New Zealand, không rời khỏi nơi chốn anh đang cư trú, tôi và anh cũng không gặp nhau. Vì lý do riêng Duy không thích về nơi tôi sống, còn tôi thì không thể đến nơi anh, vì hai phương trời cách biệt, vì hai công việc không phù hợp với nơi chốn của nhau. Đôi lúc tôi tự hỏi giữa Duy và tôi có thật một tình yêu? Đã xa lắm rồi chuyện khi nóng lòng việc gì là tôi phone cho anh hoặc gởi vài dòng tin nhắn để hỏi thăm. Bây giờ thì tôi chỉ chờ bao giờ thích thì Duy sẽ gọi cho tôi, còn không thì tôi cứ đợi và khi anh gọi thì câu chuyện tôi và anh nói với nhau cũng quanh quẩn những lời nhắc nhau giữ gìn sức khỏe, những lời cám ơn đầy khách sáo và dường như lâu lắm rồi những lời tình tứ cũng không còn, nó nhạt phai như bóng chiều cuối ngày thì phải tắt.
Mãi đến hôm nay, giữa khuya muộn màng Duy phone về, tôi hờn dỗi hỏi “Anh vẫn còn nhớ đến em ư?”. Giọng anh gắt nhẹ “Em đừng hỏi anh như vậy, chính vì câu hỏi đó mà mỗi lần muốn gọi cho em, anh cứ ngập ngừng và đôi lúc đã ngăn anh lại…”. Duy không nhìn thấy nước mắt muốn trào ra mi tôi. Tôi cắn nhẹ môi mình, và nghĩ thà Duy hãy nói với tôi một lời chia tay còn hơn là cứ kéo dài “mối tình” này như thế. Nó khiến lòng tôi u uẩn một nỗi niềm không thể nói thành lời…
***
Tôi mở Messenger và trong dòng địa chỉ danh sách bạn bè, nickname của Thi đang Available.
Tôi gõ cho anh: “Em buồn quá muốn đi tu cho rồi…”, rồi Enter.
Thi: “Ừ!…nhưng anh có vào chùa thì em cũng đừng cắt đứt dây chuông, chuông rớt…dập “chưn” anh!…”
Tôi không nín cười được “Thì kéo dây chuông xong anh tránh ra xa, nói vậy chứ em dại gì đi tu rồi làm sao tám với anh…”
Thi: “Em thích tám với anh à? Tại sao?”
Tôi: “Vì tán gẫu với anh vui lắm, vì em thấy hợp với anh, nói gì anh cũng hiểu ý, chứ có nhiều người thì Ông nói gà, bà nói vịt. Ông nói làm thịt, bà nói để nuôi…”
Thi: “…ông nói nấu xôi, bà nói nấu cháo…“
Tôi lại cười vì sự dí dỏm của Thi. Có một niềm vui nào đó đọng lại trong tôi sau mỗi khi chào anh để sign out khỏi cuộc trò chuyện, rồi mỗi lần nhớ lại những câu của Thi, tôi lại mỉm cười.
***
Rất lâu rồi Duy mới phone về cho tôi, trong khi tôi nghĩ có lẽ đã chấm dứt những gì đã có giữa tôi với anh rồi, nhưng tôi không hỏi tại sao và anh đã nghĩ gì trong thời gian im lặng đó.Tôi thấy rưng rưng với ý nghĩ của mình, anh coi công việc của anh là trên hết. Tôi im lặng không trách cứ anh một lời, tôi lắng nghe anh nói về những việc trong thời gian qua, sau đó anh hỏi tôi về sức khỏe, về việc làm. Nhưng có một điều chưa bao giờ anh hỏi câu tôi muốn, rằng “Em có buồn không?”, vì anh không hỏi nên lòng tôi chật đầy những điều muốn nói với anh không vơi được, vì anh không hỏi nên tôi phải giấu kín trong tim tôi một điều mà lẽ ra là của hai người. Bỗng nhiên tôi muốn bức phá những gì dồn nén bấy lâu trong lòng tôi:
-Anh! Mình chia tay nhau đi…
-Sao? Em đã suy nghĩ rồi mới nói đó chứ?
-Vâng! Em muốn biết cảm giác khi thật sự không còn tình yêu của anh thì em sẽ thế nào…
Duy im lặng một lúc rồi nói bằng một giọng chậm rãi:
-Có thể anh đã không thực hiện được những gì em mong muốn, nhưng anh chưa làm điều gì tổn thương đến tình cảm của em. Em hãy suy nghĩ thêm về quyết định của em và lập lại với anh vào một lúc khác. Dường như em đang xúc động vì một chuyện gì đó…
-Anh hỏi em lý do gì đi. Anh không thắc mắc rằng sao em có những khác lạ?…
Giọng anh vẫn điềm tĩnh:
-Anh tôn trọng những điều em nghĩ, anh không muốn xâm phạm vào cõi riêng trong tâm hồn em. Em hãy cố ngủ một giấc thật ngon, sáng mai thức dậy hãy nghĩ lại những lời vừa rồi nhé. Bây giờ thì anh chào em…
Tôi ngồi lặng yên, đầu óc như đặc quách không có một điều gì để nghĩ. Tiếng nói của Duy mới đó mà xa lắc như lâu lắm rồi tôi chưa nghe lại. Nhưng trong lòng tôi không còn cảm giác đợi chờ.
Tình yêu chỉ có một, còn những thứ tương tự như tình yêu thì rất nhiều nên đôi khi người ta dễ nhầm lẫn. Tôi biết rõ như thế và tôi không nhầm lẫn. Trong tình yêu, tôi không có sự đồng điệu của một niềm cảm xúc với người tôi yêu. Nhưng tôi lại tìm thấy ở nơi tôi biết rõ không phải là tình yêu một thứ có thể làm tâm hồn tôi trải ra với vạn điều muốn nói. Duy là một hình ảnh rất thật với tôi, mà sao có lúc tôi tôi ngỡ như hư ảo, như giấc mơ không có thật trong đời.
Bỗng nhiên tôi nghĩ đến một người trên khung trời ảo, mà rất gần, tựa như chạm tay là sẽ tới…

Hồ Thụy Mỹ Hạnh

[/read]

***

Yên Sơn
Trăng Tôi Và Biển

Về đây mình chỉ gặp mình
Đi ven bờ cát tìm trăng năm nào

Từ miền đông về ngang qua phố biển
Muốn tìm người, sao ngần ngại bước chân
Bao dấu yêu bỗng nhạt nhoà câm nín
Chỉ riêng mình từng bước nhỏ bâng khuâng

Chiều xuống thấp, lang thang trên bờ cát
Biển vô tâm, sóng gõ nhịp luân hồi
Vẳng bên tai như có lời ai hát
Sắt se buồn trong kỷ niệm đầy vơi

Vẫn ánh trăng, màu trăng vàng năm cũ
Chỉ thiếu người cùng chung bước như xưa
Nhịp sóng vỗ, cung điệu buồn luân vũ
Quẩn quanh đây phảng phất chút hương thừa

Bờ cát vắng, nhiều mảnh sò vụn vỡ
Ốc mượn hồn sục tìm chốn dung thân
Tim lạc nhịp, cung điệu tình dang dở
Kiếm đâu ra được một chút ân cần

Ngồi bó gối nghe thời gian vụn vỡ
Nhịp tim đau thoi thóp gọi tên người
Trên lưng đồi, liễu buồn im không nói
Ánh điện vàng mờ nhạt dưới trăng soi

Hòn đá cuội hình trái tim ai tặng
Vẫn còn đây, đã mòn nhẵn trong tay
Trong lồng ngực một trái tim trĩu nặng
Gã si tình gục mặt hát đêm say

Yên Sơn

***

Hạc Thành Hoa
Nói Với Mình Trong Khi Trú Mưa

1.
bên đường anh đứng trú mưa
hàng bông giấy thưa che sao khỏi ướt
mưa từ những sợi tóc còn đenlàm đôi mắt xót
mưa từ những sợi tóc vừa trắng làm đôi mắt cay
những sợi tóc dính vào mặt
như nét vân trên đá
một trận mưa hai trận mưa ba trận mưa…
mọc lên những chiếc nấm sặc sỡ
anh chợt nghĩ đến em
không phải dưới chiếc nấm nhiều màu
mà lạnh run dưới chiếc dù ngoài chợ
chiếc dù bằng bàn tay
chống đỡ cả trời mưa gió

2.
bên đường anh đứng trú mưa
giá mà có em
thì cả Saigon sẽ dễ thương biết mấy
trận mưa sẽ dễ thương biết mấy
và anh…
vẫn đứng đây trú mưa
như đã từng đứng đây
mấy chục năm về trước
cũng dưới hàng bông giấy này
chỉ có cổ họng khô
còn tất cả đều ướt
em biết không
những năm tháng đó
anh sống vật vờ như chiếc bóng
dửng dưng với tất cả
hoài nghi tất cả
lạnh lùng với tất cả
với cả chính mình
em biết không
ở đâu anh cũng là người khách lạ
ở đâu cũng không phải quê hương
em ơi làm sao em biết được
một gã ưu du
cứ đi cứ đi
như kim đồng hồ chạy ngược
buồn như chú dế than lạc mất đám cỏ xanh
đứng dưới cột đèn ngơ ngẩn…

3.
bên đường anh đang trú mưa
mưa đang trú anh
một trận mưa… hai trận mưa … ba trận mưa …

Hạc Thành Hoa

***

Tuyền Linh
Giọt Mưa Hay Giọt Lệ Tôi

Hôm kia nắng vẫn còn đây
Hôm nay nắng trốn để cây lúa tìm
Nhìn ra cổng ngắm mái đình
Ngói khô hớt hải ngẩng nhìn mây đen

Trời vần vũ, người lăng xăng
Cuối vụ sắp gặt một phen chạy đồng
Chạy đâu cho kịp cơn giông
Ba chưn bốn cẳng chổng mông kêu trời

Sấm gầm… gió giật… mưa rơi…
Giọt mưa hay giọt lệ tôi rớt đồng?
Nước về trắng ruộng mênh mông
Bập bềnh lúa cũng phập phồng trôi trôi

Đoạn lòng, đành phải buông xuôi
Mồ hôi nước mắt góp nuôi ruộng đồng
Để chừ bụng lại hoàn không
Hạt lúa trốn mất trống không dạ dày

Mắm rau, rau mắm qua ngày
Củ khoai củ sắn kéo cày mùa sau
Thân trâu hoàn lại thân trâu
Đời nông dân có phép mầu nào thay?

Cuộc đời lắm nỗi trớ trêu
Kẻ ăn không hết, người nghèo kiết thân
Về đây nhìn cảnh phong trần
Nghe quá xa xót… mần gì giúp đây (?)

Chữ nghĩa chỉ bằng bàn tay
Mà trời cao quá… vói lay sao tường!
Thôi đành làm vạc kêu sương
Đêm đêm âm vọng mười phương tỏ bày.

2017
Tuyền Linh
***


Nguyễn Đức Nhơn
Người Đàn Bà Ở Căn Chung Cư Số 13

Có tiếng động mạnh trên tầng lầu 2. Tôi bước vội ra sân nhìn lên, nhưng chỉ kịp thấy cánh cửa căn chung cư đóng sầm lại rồi im bặt. Tôi chờ thêm vài phút xem có chuyện gì xẩy ra nữa hay không thì điện thoại trong nhà bật reo. Tôi vội trở vào nhấc máy và sững sờ khi nghe đầu dây bên kia:
– Anh Hải ơi! anh lên khóa cửa giùm em. Hồi chiều ra đi em quên khóa. Cảm ơn anh
– Alô… alô… tôi chưng hửng, càu nhàu, con khỉ! chưa kịp hỏi gì đã cúp, đồ điên…

[read more=”Click here to Read More” less=”Read Less”] 

Hôm sau, khi gặp bà Trang, tôi chưa kịp mở lời phân trần… thì bà nhìn tôi tươi cười nói:
– Cám ơn anh đã khóa cửa giùm em. Nghe bà Trang nói, tôi chới với không biết phải ứng đáp thế nào vì tôi có khóa cửa giùm bà bao giờ đâu! Chìa ở đâu mà khóa! Bất chợt, tôi nghĩ đến một điều, ở Mỹ chìa khóa nhà ai nấy giữ, đâu có tùy tiện đưa cho người khác được. À, mà sao bà ta lại nghĩ là mình có chìa khóa nhỉ? Nếu bà bị mất đồ thì sao? Nghĩ đến đây tôi đâm hoảng nhưng cố lấy bình tĩnh hỏi:
– Chị có bị mất mát gì không?
Bà Trang cười tươi như hoa:
– Dạ không, nhờ anh khóa cửa nên không xẩy ra chuyện gì. Tôi bực mình hỏi:
– Này chị Trang, khóa cửa của chị có mấy chìa vậy?
Bà Trang trố mắt nhìn tôi ngạc nhiên:
– Anh hỏi làm chi vậy. Anh Hải ơi, ở Mỹ đừng hỏi những việc như vậy, không tốt đâu. Tôi kêu trời không thấu nhưng nhìn cái vẻ vô tư ngớ ngẩn của bà, tôi đành gượng gạo nói, đúng… đúng…, chị nói đúng! À này chị Trang, tôi làm gì có chìa khóa của chị mà chị nhờ tôi khóa cửa? Chị có chắc là khi trở về, cửa của chị đã được khóa không? Bà Trang nhìn tôi với vẻ ngơ ngác, cặp mắt láo liên hình như đang nghĩ đến một điều gì đó, rất quan trọng. Bà thở dài sườn sượt nói: – Xin lỗi… xin lỗi… em lẩm cẩm quá. Bà vừa nói vừa vội vã bước lên thang gác…

Gần một tháng nay căn chung cư số 13 của bà Trang cửa đóng im ỉm, cũng không thấy xe bà đậu ở parking lot. Tôi không rõ bà đi xa hay đã đổi chỗ ở? Tuy căn nhà bỏ trống, nhưng thỉnh thoảng lại nghe có tiếng chân người đi tới, đi lui, nện gót giầy thình thịch trên sàn nhà. Đôi khi lại có ánh sáng lờ mờ của loại đèn ngủ phát ra từ khung cửa sổ. Tôi vốn là người không tin ma quỷ, nhưng với những hiện tượng kỳ lạ trên tầng lầu 2, khiến tôi khó tìm được giấc ngủ thanh thản, nhất là về ban đêm. Tôi đâm lo và không biết tại sao lại cảm thấy buồn buồn sau những ngày không gặp bà Trang! Nhiều đêm tôi cứ trằn trọc, thao thức mãi cho đến nửa đêm mới chợp mắt được. Tôi đến ở đây gần được một năm. Tôi không vợ con và cũng chẳng có bạn bè, thân thuộc gì. Có thể nói bà Trang là người thân quen duy nhất của tôi. Bà cũng như tôi. Độc thân. Tính tình trầm lặng. Không thích giao du bạn bè. Bà làm thu ngân viên cho một trung tâm bán lẻ. Ngoài thời gian đi làm và đi chợ, hầu như lúc nào bà cũng có mặt ở nhà.

Căn nhà số 13 yên tịnh lạ thường và bà Trang cũng bặt vô âm tín. Một hôm khi đi làm về, tôi thấy một miếng giấy nhỏ dán trên khung cửa, chữ viết bằng mực đỏ, nhòe nhoẹt từa tựa như viết bằng máu. Miếng giấy chỉ viết có mấy dòng “Anh Hải ơi! Ngày 13 tháng này anh lên gác đốt vài nén hương trên kệ thờ giùm em nhé. Cảm ơn anh nhiều” Tôi đọc mấy dòng chữ mà dở khóc dở cười, lầm bầm trong miệng, ở căn nhà số 13 mà còn nhờ mình ngày 13 lên gác đốt nhang. Trời ơi, con số 13 đâu có đem ra đùa cợt được. Tôi tính nhẩm, từ đây đến ngày 13 còn khoảng hơn một tuần. Thế là tôi cứ nơm nớp chờ đến ngày 13 xem có việc gì xẩy ra hay không?

Đang ngồi đọc báo ở phòng khách thì điện thoại reo. Tôi nhấc lên nghe nhưng điện thoại cứ rít rít, è è không làm sao nghe được. Giọng nói ở đầu dây bên kia cũng nhòe nhoẹt, đứt quãng, chỉ nghe được mấy tiếng Trang đây… Trang đây… rồi sau đó là những tạp âm nghe đến rợn người.
Đó là vào một chiều Chúa nhật trời nhá nhem tối. Bên ngoài mưa tầm tã. Những giọt nước từ trên hành lang căn gác nhỏ xuống khóm bạc hà trước hiên nghe lộp độp, lộp độp, thật buồn. Tôi mở cửa bước ra ngoài. Một cảnh tượng làm tôi suýt đứng tim đang hiện ra trước mắt. Những giọt máu từ trên hành lang căn gác rơi xuống đọng trên mấy phiến lá bạc hà, rồi nhiễu từng giọt xuống bộ xương người làm bằng chất nhựa trắng mà tôi đã đặt ở dưới mái hiên trong ngày Halloween. Tôi bước vội vào nhà định gọi 911. Nhưng kịp nghĩ lại, không lẽ có kẻ giết người vào giờ này? Tôi do dự một chút rồi quyết định lên gác xem việc gì đã xẩy ra. Tôi cẩn thận rón rén từng bước đến trước căn nhà số 13. Tôi ngẩn người khi phát hiện ra ngay ở mép hành lang, ai đó đã để một hộp sơn màu đỏ (loại pha nước). Nước mưa tạt vào làm tràn hộp sơn rồi theo kẽ hở chảy xuống tầng dưới. Tôi lững thững bước xuống cầu thang mà nghe lòng buồn rười rượi!…

Vào nhà ngả lưng trên sofa, tôi ngẫm nghĩ, có lẽ gần đây mình bị ám ảnh bởi căn nhà số 13, nên không kịp nhận định, quan sát kỹ càng mới tưởng tượng ra cái chuyện buồn cười, lảng nhách này! Nhưng rồi tôi lại nghĩ, tại sao hộp sơn để ngay trước căn nhà số 13 mà không để ở một căn chung cư nào khác? Tại sao hộp sơn lại mở nắp ra? Tại sao lại chọn đúng vào buổi tối nhá nhem, trời mưa tầm tã này? Hay là có kẻ dùng sơn đỏ để hăm dọa, cảnh cáo mình? Tại sao và tại sao?… Hàng loạt câu hỏi khó trả lời lần lượt hiện ra trong đầu tôi…

Ngày 13 đã đến. Khi làm về, tôi đứng ở parking lot rất lâu để quan sát kỹ càng căn nhà bà Trang. Cửa vẫn đóng. Không thấy có hiện tượng gì khác lạ. Tôi vào nhà thay quần áo rồi vô bếp lục thức ăn. Bưng tô cơm có trộn xì dầu và cải mặn vào phòng khách, tôi vừa ăn vừa nghĩ đến những mẩu chuyện rùng rợn mà người ta đã kể cho tôi nghe về con số 13. Câu chuyện đầu tiên xẩy ra vào thời Đệ nhị Thế chiến, một quả đại pháo của quân Đức rớt ngay giữa một nhóm lính Mỹ gồm 13 người, tất cả đều tử thương. Từ đó về sau người ta rất úy kỵ con số 13 và cũng từ đó người ta sáng tác ra không biết bao nhiêu chuyện ly kỳ quái đản có liên quan đến con số 13, với một kết luận chắc nịch, 13 là con số xui tận mạng!

Ngồi nghĩ ngợi lung tung một hồi đâm chán, tôi mở cửa ra ngoài cho thư giãn một chút, nhưng bầu trời xám ngắt, cảnh vật âm âm, tôi vội trở vào nhà vì thấm lạnh. Ngồi một mình ở phòng khách, tôi cảm thấy buồn bã, cô đơn, trống vắng vô cùng. Thú thật, cái cảm giác này chỉ đến với tôi trong những ngày không gặp bà Trang. Nhưng lắm lúc tôi lại cảm thấy băn khoăn vì những hiện tượng quái lạ trên tầng lầu 2.

Ngày xưa, khi còn trẻ, tôi đã say mê đọc Liêu Trai Chí Dị của Bồ Tùng Linh. Vì vậy, không ít thì nhiều, cũng bị ảnh hưởng bởi những mối tình tuyệt đẹp giữa người và yêu tinh. Tôi không phải là một anh học trò nghèo mải mê đèn sách. Bà Trang cũng không phải là một con chồn tinh. Ấy thế mà tôi cứ thấp tha thấp thỏm trong lòng. Tôi uể oải đứng lên, định lái xe chạy một vòng cho khuây khỏa, nào ngờ mới mở cửa ra, thì bà Trang đang từ nơi đậu xe lù lù bước tới. Tôi đứng sững như trời trồng, miệng cứ ú ớ mãi. Bà Trang hơi ngạc nhiên nhưng cũng kịp nhận ra ở tôi có một việc gì đó, không được bình thường. Bà đoán như vậy rồi vội vàng lên tiếng:
– Làm sao vậy anh Hải? Không hoan nghênh em trở về à? Tôi vội lấp liếm cho qua chuyện:
– Đâu có! Chỉ hơi ngạc nhiên thôi. Bà Trang tiếp, lạnh quá! Em vào nhà được không? Tôi mời bà vào nhà với một nỗi băn khoăn lo lắng. Ngồi vào ghế xong, bà Trang cất giọng hỏi:
– Hôm nay anh có lên gác thắp giùm em mấy nén hương không vậy?
Nghe bà Trang hỏi tôi đâm bực mình nhưng cố làm ra vẻ tự nhiên:
– Chị Trang ơi! Chị biết tôi không có chìa khóa của chị mà sao chị cứ nhờ khóa cửa hoài vậy?! Bà Trang hơi ngơ ngác một chút rồi lên tiếng:
– Chết rồi, em lại lẩm cẩm nữa rồi. Xin lỗi anh nhé. Tôi nói:
– Không có gì.
Im lặng một chút. Bà Trang nhìn quanh căn nhà với một vẻ chăm chú khác thường. Tôi đánh tan sự im lặng:
– Này chị Trang, hai tháng nay chị đi đâu vậy? Tôi có gọi cell phone mấy lần mà không được.
Bà Trang nhìn tôi với nét buồn vời vợi nói:
– Mấy tháng nay em không dùng cell phone anh à!
Tôi định hỏi bà thêm một câu, nhưng chưa kịp mở miệng thì bà Trang tiếp:
– Anh Hải à! Nếu em có một việc đáng buồn nào đó muốn tâm sự với anh thì anh có chịu nghe không?
Tôi trả lời không do dự:
– Nghe chứ! Nhưng tôi sợ không giữ được bí mật khi nghe những điều ấy!
Bà Trang thở dài nói:
– Thực ra cũng chẳng có bí mật gì cả.
Bà vừa nói dứt câu thì gục đầu xuống bàn khóc tức tưởi. Tôi đâm hoảng, bối rối không biết phải ứng xử thế nào trước sự việc xẩy ra đột ngột như vậy. Tôi còn đang ngồi chết trân thì bà Trang ngước mặt lên, vừa đưa tay quẹt nước mắt vừa thì thầm qua hơi thở:
– Anh lên gác với em được không?
Tôi giật mình. Một ý nghĩ không được lành mạnh hiện ra trong đầu tôi. Bà Trang thấy tôi lưỡng lự nên hỏi lại. Tôi gật đầu, nhưng trong thâm tâm có một chút băn khoăn, ngần ngại. Đây là lần đầu tiên bà mời tôi lên nhà.

Bà Trang mở cửa rồi vói tay vặn nút điện. Ánh sáng từ chiếc đèn màu vàng nhạt trên trần nhà tỏa xuống một thứ ánh sáng yếu ớt, nhờn nhợn nhưng cũng đủ cho tôi quan sát tường tận mọi vật bày biện trong nhà. Tôi để ý đến cái kệ thờ bằng gỗ, sơn màu đỏ gắn trên tường nhà. Trên kệ thờ là ảnh một người đàn ông còn khá trẻ, khoảng ba mươi, ba mươi lăm gì đó. Phía trước tấm ảnh là một lư hương bằng đồng, đầy ắp chân nhang.

Bà Trang loay hoay trong bếp một hồi rồi bưng ra ba ly cà phê. Tôi hơi ngạc nhiên nhưng rồi hiểu ra ngay. Bà Trang lấy một ly để lên kệ thờ rồi đốt nhang cắm vào lư hương. Bà làm mấy việc này một cách tự nhiên và thành thạo. Bà nhìn tôi hỏi:
– Anh Hải làm gì mà ngồi thừ người ra vậy? Tôi lúng túng chưa kịp trả lời thì bà chỉ ly cà phê nói tiếp:
– Mời anh. Em không biết uống cà phê, nhưng hôm nay trời lạnh, em uống với anh một ly.
Tôi tò mò hỏi:
– Không biết uống mà sao chị có sẵn cà phê trong nhà vậy?
Bà Trang trả lời một cách tự nhiên:
– Dạ hôm nay là ngày giỗ anh Long, hồi nãy, trên đường về, em ghé chợ mua một gói để cúng anh ấy. Tôi biết rõ Long là chồng bà Trang nhưng giả vờ hỏi:
– Anh Long nào vậy?
Bà Trang vừa đưa tay chỉ lên kệ thờ vừa trả lời hồn nhiên như một đứa bé:
– Ảnh đó, chồng em đó.
Tôi ồ lên một tiếng rồi lảng sang chuyện khác:
– Mấy tháng nay chị Trang đi đâu vậy?
Bà Trang trả lời ngay, không một chút suy nghĩ:
– Em đi lấy chồng.
Tôi chưng hửng. Bà Trang nói tiếp, mà không được đâu anh à, thà ở vậy còn sướng hơn. Bà Trang nói như để phân bua, còn tôi thì như một quả banh, bị bà ta nhồi tới nhồi lui đến tối tăm mày mặt!

Một phút im lặng. Mỗi người đang theo đuổi một ý nghĩ riêng. Bỗng dưng bà Trang giương cặp mắt tròn xoe nhìn tôi nói nhanh:
– Hôm trước em có về nhưng không gặp anh. Em về để thắp hương cho anh Long và sơn lại cái kệ thờ. Hôm đó em lu bu quá nên để quên cái hộp sơn ở trước nhà bị trời mưa trôi đi hết lại còn bị office cằn nhằn đòi em phải kêu người đến sơn lại. Tôi ngớ người lẩm bẩm
– Thì ra là vậy!
Bà Trang nhìn tôi ngơ ngác:
– Anh lầm bầm cái gì đó?:
– Ờ không, tôi định hỏi chị Trang chừng nào đi lại?
– Bà Trang thở dài sườn sượt nói:
– Còn đi đâu nữa, em sợ quá rồi.
Những câu úp mở của bà Trang càng gợi thêm tính tò mò của tôi. Tôi quyết định từ bà Trang phải khám phá cho bằng được những sự việc kỳ quái mà mấy tháng nay nó luôn ẩn hiện trong đầu tôi.
– Chị Trang à! Có việc này tôi hơi tò mò một chút, chị đừng giận nhé. Bà Trang nhìn tôi với vẻ thản nhiên nói:
– Anh cứ hỏi, có sao đâu!
Tôi mạnh dạn hỏi:
– Chị nói đi lấy chồng sao còn tính về đây ở luôn?
Bà Trang trả lời một cách thản nhiên thật thà:
– Chuyện hơi dài dòng, anh chịu khó ngồi nán lại một chút nhé. Cách đây 2 tháng, tình cờ em gặp một người đàn ông. Nhà ông ta ở cách đây chừng một giờ lái xe. Ông ta là chủ một cửa tiệm nhỏ. Ông ấy vung vãi tiền bạc để chinh phục em. Nhắc đến thật xấu hổ. Lúc đó em bị tiền bạc làm mờ mắt nên đồng ý ở chung với ông ta. Nào ngờ, người chồng mới này của em là một người ghen tuông bậc nhất trên đời. Ông ta kềm kẹp giám sát em còn hơn một cai tù. Thậm chí còn cấm không cho em nói chuyện điện thoại với bất cứ người nào. Tuy vậy, thỉnh thoảng, em cũng tìm cách lén về nhà dọn dẹp đồ đạc, thắp nhang cho anh Long rồi trở về ngay. Những lần như vậy, em biết anh có ở nhà, nhưng không dám quấy rầy giấc ngủ của anh. Với cái cảnh sống như ở tù này làm tinh thần em sa sút rất nhiều. Hồi sáng này như tức nước vỡ bờ, em cãi với ông ta một trận rồi cuốn gói về đây.
Nghe bà Trang kể xong, tôi thở phào nhẹ nhõm lẩm bẩm, làm ầm ầm, còn nói là sợ người ta mất ngủ. Bà Trang giương cặp mắt tròn xoe hỏi:
– Anh nói gì? Tôi trả lời ú ớ, à không, không có gì.
Bà Trang lớ ngớ, không hiểu rõ tôi muốn nói gì, nhưng bà cũng không mấy quan tâm về câu nói ỡm ờ của tôi. Hình như bà đang nghĩ về một điều gì khác, quan trọng hơn. Bà nhìn tôi im lặng, thở dài… Đồng hồ trên tường gõ nhẹ 12 tiếng, tôi thấy ngồi thêm bất tiện nên từ giã bà Trang với một niềm vui thấp thoáng trong lòng.

Nguyễn Đức Nhơn

[/read]