Trang Chính

VIDEO THƠ NHẠC

      
      
            

THI ẢNH

     

      


THƠ VĂN

Trần Văn Sơn
Lá Kinh

Loay hoay góc nhà nghỉ mệt
Vườn sương lũ bướm chập chờn
Ngân nga hồi chuông vĩnh biệt
Chuông chùa cố xứ Thiên Sơn

Chờ xe bên đường niệm Phật
Lao xao phố khói bụi mờ
Gương kinh soi ngang tầm mắt
Soi xa tận cõi nguyên sơ

Thăm rừng nghe chim nói Pháp
Ngẩn ngơ gió núi mây ngàn
Tờ kinh che vòm lá thấp
Nhẩn nha bầy sóc họp đàn

Tỉa cây nghe hoa đọc kệ
Trầm tư hương chữ ngọc trầm
Lá kinh mở trang nhất thể
Hạt gieo đất mới nẩy mầm

Trần Văn Sơn

***

Nguyễn Đức Nhơn
Khách Lạ

khách về đây trời đất thênh thang
gió mùa bấc tháng giêng lồng lộng thổi
hàng dương liễu đón chào khách mới
khách đường xa rũ áo phong trần

khách về đây sông nước ngại ngùng
con thuyền nhỏ chở đầy sóng gió
trở về neo trên bờ bến lạ
thuyền bập bềnh giữa bến chiều hoang

trên bờ kia ai mất ai còn?
con phố cũng vắng người qua lại
khách bỗng thấy cõi lòng tê dại
đường trăm năm lề đá xanh rêu

khói vàng ươm nắng ngả màu chiều
con gió bấc cũng ngập ngừng lịm tắt
bóng chiều đỗ trên bờ vai áo bạc
khách mân mê râu tóc, ngại ngùng…

kìa nhà ai cửa khép lạnh lùng?!
khách ngờ ngợ bước lần qua lối nhỏ
con chó già ngủ vùi trước ngõ
đàn gà con quấn quýt sau lưng!

khách băn khoăn chân bước ngập ngừng
từng nhịp thở gõ đều trên nỗi nhớ
kìa ai lạ? khách sửng sờ hỏi nhỏ
ai ngồi kia cúi mặt im lìm?

khách bàng hoàng, nghe máu ứa về tim
hàng dương liễu cũng gục đầu thổn thức
khách lặng lẽ quay về sông nước
bến chiều xa khói cũng mơ hồ!

ghềnh đá ôm nhau ngọn sóng xô đùa
con nhạn trắng bay đi lặng lẽ
mùi hương lạ bỗng dưng lại nhớ
bến bờ xưa đâu còn chút dư âm!

khách trở về nơi bến đỗ trăm năm
chống sào đợi tuổi già qua mái tóc
đêm lạnh ngắt bến sông vàng trăng mọc
thuyền lênh đênh trên nỗi nhớ bập bềnh.

bến sông vắng lòng người cũng vắng
sương giăng mờ bến cũ bóng đò xưa
trăng đêm nay trăng mờ đêm nguyệt tận
gió đông về lạnh lẽo ngọn đèn khuya.

Nguyễn Đức Nhơn

***

Phạm Cao Hoàng
Đi Giữa Chiến Tranh

quê cũ mười năm mây lớp lớp
mười năm mưa khóc buổi sang mùa
dưới trời sương lạnh rơi tan tác
rét mùa đông cũ rét lê thê

đường tôi đi có bom và đạn
có hận thù trên mỗi dấu chân
ai thả vào hồn tôi mới lớn
những mùa xương máu ngập tang thương

đường tôi đi có mùa hoa rụng
những cánh hoa màu tim tím xưa
có phải màu hoa trên áo lụa
bay bay chiều gió lộng em về

đường tôi đi có khói hoàng hôn
quyện trong mưa bấc sắt se buồn
có phải me tôi bên bếp cũ
đốt lò sưởi lạnh cuối mùa đông

ai thổi vào hồn tôi khúc nhạc
ngàn năm réo gọi kiếp đời tôi
nơi đây có kẻ tìm non nước
lang thang bên những mộ bia người

ai bắn vào hồn tôi trái nổ
đứt từng mạch máu nát tim tôi
vỡ vỡ chiều nay tôi sắp vỡ
chiến tranh chiến tranh bao giờ thôi

Phạm Cao Hoàng

***

Phạm Ngũ Yên
Một Chút Buồn Đầu Thu

Nếu có kiếp sau mình đi lại từ đầu
Cùng nắm tay nghe những đường gân nóng hổi
Những hoa sứ của một thời nông nỗi
Vừa buông cành bay hết cả về anh

Biết nói gì khi anh vẫn là anh
Vẫn cứ chậm chân trên góc đường nắng gió
Biển sáng hiền ngoan nhưng cuối ngày chảnh chõ
Thổi vào đất liền bao điệp khúc mưa mưa

Em một thời con gái giấu se sua
Biết giữ tiếng cười riêng cho những ngày vụng dại
Những hương sắc như chưa từng tung tãi
Riêng với đời – và riêng một anh thôi…

Ngày trở mình theo tiếng gọi… anh ơi
Em chợt lớn khôn nhưng cũng vừa té ngã
Những hạnh phúc phù hư những giọt sầu rất lạ
Chảy ngược xuống đời làm sông khóc bao la…

Em có còn cửa biển của … người ta
Cho một cánh buồm héo hon cuối đời về neo lại…
Cho những bước chân suốt một thời kinh hãi
Rượt đuổi tình yêu nên trượt một chỗ dừng…

Mùa thu rồi mà cây vẫn dửng dưng
Chưa đủ lá vàng để màu xanh bức rức
Những ngọn điện bâng khuâng nơi nhà ai vẫn thức …
Thắp môt lần mà cháy suốt già nua

Mưa tạnh rồi em đã hết buồn chưa?
Khi tình đã bớt đau và bàn tay bớt lạnh
Góc giường chênh vênh bóng trăng gầy kiêu hãnh
Tiếng hạt nẩy mầm trong góc lá xuân xanh

Ly cà phê buồn va vào chiếc muỗng lanh canh
Như em va vào anh một đôi lần lầm lỡ
Thời gian chậm rì nhưng cả hai người đều lỡ
Đều về đến sau trên những vạch vôi đời

Để cuối cùng giọt lệ chảy song đôi
Em ghẻ lạnh đời mình thêm chút nữa
Từng chiếc lá khẽ khàng nơi ngạch cửa
Có người đàn bà ngồi thả nhớ bay cao

Không phải tình đầu cũng không thể tình sau
Mà sao hôm nay giữa bốn bề vàng ấm
Có người chờ nghe một lời tình sâu đậm
Nhưng đã lạt rồi từ những tháng năm

Em thật gần nhưng cũng rất xa xăm
Niềm vui oằn rơi trên nỗi buồn thừa mứa
Những tiếng mưa quen tạt bên ngoài cánh cửa
Vẫn âm thầm khép lại từng đêm…

Đi suốt một chặng đường mới tìm gặp được em
Nên nếu vắng em anh không thể nào chịu được
Bởi ngực trái râm ran một điều đau nhức
Làm nên khổ đau mà vui sướng tột cùng…

Có những cuộc tình như sợi khói mông lung
Mà phút chốc quấn tim mình quá chặt
Nỗi nhớ trong anh và nỗi buồn em. Có thật
Nên có bao giờ anh quên được em đâu?

Nov. 2016
Phạm Ngũ Yên

***

Lâm Chương
Cơ Ngơi Ngày Cũ

Phía trước nhà ngoại tôi, có hàng cây duối. Thân cây sần sùi già cỗi, to cỡ người ôm. Cây không cao, tàn không lớn, mà chi chít lá rậm. Trong ấy thường lẩn khuất những con rắn lục màu lá non. Chung quanh gốc cây, người ta chất những nồi đất nứt vỡ, và ông táo cũ bằng gạch nung. Trong xóm có người đau bệnh, thân nhân thường đến đây đốt nhang khấn vái, còn lại những chân nhang tàn qua bao năm tháng. Ngoại tôi nói, có thần linh trú ngụ nơi cây duối. Và những con rắn lục là binh gia của ngài, không ai dám sát hại. Bọn trẻ nhỏ cũng kiêng dè, tránh tới gần chơi giỡn làm ồn, sợ thần linh quở phạt.

Bên kia hàng duối là gò đất cao. Ðất khô cằn chai cứng. Ngoài những cỏ gấu, cỏ may và những bụi chùm hôi chịu được nắng hạn, không có cây gì mọc nổi trên khu đất gò. Vì địa thế cao, không úng nước, nên được chọn làm đồng mả riêng cho dòng họ ngoại tôi. Người trong thân tộc, tha phương bất cứ nơi nào, khi chết cũng đem về chôn ở đây. Có những cái mả xây bằng đá ong, lâu đời đến nỗi không ai biết nắm xương tàn của ông bà cố tổ dưới mộ tên gì, liên hệ huyết thống ra sao. Hồi nhỏ, nghe đồn khu gò đồng mả có ma. Nhất là sau khi dì Út tôi chết trong tuổi còn thanh xuân, tiếng đồn càng dễ sợ hơn. Chỉ tưởng tượng đến những đêm trăng lạnh mù sương, dì hiện hồn về, xoã tóc ngồi trên mộ mà khóc, cũng đủ làm đám trẻ nhỏ rợn mình. Gợi trí tò mò, năm ba đứa chúng tôi, núp dưới chân khu đất gò, rình coi ma. Ma đâu không thấy, nhưng đôi khi thấy những cục lửa màu xanh lân tinh từ trên gò, không biết nơi cái mộ nào, lảo đảo bay lên đọt tre. Tôi kể cho ngoại nghe hiện tượng này. Ngoại bảo, đó là hồn người chết bay lên trời. không nên nhìn, e hồn ma sẽ theo về nhà. Dù thương dì Út, nhưng không bao giờ tôi muốn dì trở về dưới hình bóng một con ma. Lúc còn sống, dì Út là người thanh tú hơn hết trong các chị em của má tôi. Da dẽ trắng trẻo mịn màng, và mỗi khi dì tháo búi tóc ra, tóc đen mướt, buông dài xuống quá lưng. Tôi hay nâng mái tóc của dì, đưa lên mũi hít thở. Dì cười, hỏi:
-Ngửi thấy thế nào?
Tôi nói: -Nghe mùi của dì.
-Mùi dì ra sao?
-Mùi vú, và mùi dầu dừa.
Dì nhéo tai tôi:
-Ðừng nói mùi vú. Người ta cười chết.

Thuở còn bé tí teo, tôi thường hay khóc đêm. Má tôi cho mằn vú để tôi dễ ngủ, đã thành thói quen. Khi ở nhà ngoại, tôi ngủ với ngoại hoặc dì Út, cũng không bỏ được tật mằn vú. Vú của ngoại thì teo tóp nhùng nhằng như cái túi da nhão nhẹt. Tôi thích vú dì Út hơn. Xoè bàn tay nhỏ của tôi mà xoa cặp vú căng phồng tròn trịa của dì, thật đã. Bóp mềm mềm như cái bong bóng. Nhưng lần nào tôi bóp, dì cũng hất tay tôi ra.

-Ðừng!
Tôi hỏi:
-Ðau hả?

Dì nói: -Mày cứ sờ mò nắn bóp hoài, làm sao dì ngủ được? Hãy nằm nghiêng qua bên kia, quay lưng lại phía dì! Nằm như thế, tôi lại trằn trọc hoài, khó ngủ. Một lúc sau, độ chừng dì đã ngủ, tôi quay qua mằn vú.
Dì thức giấc:
-Lại nữa! Mày muốn dì đuổi qua giường ngoại không?
Tôi nín thinh. Ðể im bàn tay trên vú. Cái đầu vú nhỏ xíu của dì kẹp giữa hai ngón tay tôi.
Và tôi êm đềm đi vào chiêm bao. Năm hai mươi mốt tuổi, dì soi gương đối bóng mỉm cười, hay chải chuốt và chưng diện áo quần. Dì trở chứng bất thường. Không thích ánh sáng, hay rúc vào buồng, nói chuyện nho nhỏ, cười khúc khích một mình. Mọi người cho rằng, dì mắc bệnh “cõi âm”. Dân gian thời bấy giờ giải thích, dì bị một vong linh đàn ông nào đó, theo quyến rũ tư tình. Nghĩa là bị ma ám. Sắc diện dì vàng võ khô héo dần. Năm sau, dì chết đi trong niềm đau xót của gia đình ngoại tôi. Tôi thương dì Út hết sức. Nhìn lên bàn thờ, di ảnh của dì ngó tôi không chớp mắt. Ban ngày tôi không sợ. Nhưng ban đêm mường tượng lại đôi mắt ấy, tôi sợ đến khủng hoảng tinh thần. Tôi cầu mong dì đừng hiện về nhát tôi, tội nghiệp.
Ðương nhiên, dì Út tôi được chôn trên khu đất gò đồng mả. Mộ xây bằng đá ong. Ngôi mộ nào cũng thế. Sao những cọng cỏ may phất phơ theo gió trên mộ dì Út lại mang màu ảm đạm thê lương, làm tôi muốn khóc?

Năm xưa. Có hai thầy trò địa lý người Tàu, đi ngang qua xóm, dừng chân nhìn thế đất gò đồng mả, tấm tắc khen là nơi linh địa. Nghe thế, ông ngoại tôi mời về nhà, cơm nước đãi đằng tử tế, hỏi chuyện tương lai. Thầy Tàu cho biết, tổ tiên được chôn trên gò đất này, thì đời sau con cháu sẽ phát về hướng quan trường, phúc lộc. Ông lại nói thêm, phải chi cái gò nằm dựa lưng vào con sông thì tuyệt.

Ông ngoại tôi hỏi:
-Tuyệt ra làm sao?
Thầy Tàu bảo:
-Gò đất dựa lưng con sông. dù không được như hàm rồng long mạch, nhưng cũng tựa như kình ngư quẫy sóng. Con cháu dù không phát vương, cũng có thể cầm gươm vạch đất, chia cắt giang sơn, cát cứ một vùng, ngước mặt mà làm minh chủ, sứ quân.Ông ngoại tôi chắc lưỡi, tiếc sức người không dời được con sông Vàm Cỏ Ðông về bên gò đất, cho con cháu mai sau được nhờ. Nhưng trời đã khiến vậy. Chịu thôi. Con cháu chỉ được làm quan lớn, hưởng nhiều phúc lộc, thoát được số phận hẩm hiu của bao đời cha ông còng lưng cày bừa trên những ruộng đồng rẫy bái, cũng an ủi lắm rồi.
Ðể đáp lại tấm lòng người đã tha thiết gọi mời, ân cần chiều đãi, ông thầy Tàu ở lại mấy ngày, giúp ngoại tôi đo đạc đất đai, định hướng mồ mả, đóng cọc yểm bùa trấn yêu chung quanh gò đất. Ông bảo, muốn đời sau hưng thịnh, thì đời này phải khai thông nguồn mạch ẩn tàng trong lòng đất. Xong việc, ông khăn gói ra đi, để lại tên học trò. Ngoại tôi mừng. Không nắm được thầy, thì cột chân học trò. Cũng là một cách giữ ông thần độ mạng nho nhỏ trong nhà. Và người con gái của gia đình làm sợi dây thân ái, nối với tên học trò Tàu, biến hắn thành con rễ.

Thời gian thấm thoát. Cặp vợ chồng Tàu Việt cho ra đời đến sáu đứa con đầu gà đít vịt. Tôi là một trong sáu đứa này. Mấy chục năm qua, dòng họ ngoại tôi chưa có ai khá nổi. Ðừng nói chi đến chuyện ngóc đầu lên để làm quan triều đình.
Sự kiên nhẫn đợi chờ nào cũng có giới hạn. Ngoại tôi hỏi chàng rễ Tàu:
-Sao người trong dòng họ nhà ta chưa khá?

Ba tôi, tức chàng rễ Tàu, nói:
-Ngộ lâu piết.
-Thế sao thầy của mày bảo cái khu gò mả nhà ta là linh địa?
-Nó lâu phải thầy của ngộ.
-Vậy nó là ai?
-Là người cùng một làng với ngộ, ở pên Tàu.
-Sao mày đi chung với nó?
-Ở pên Tàu, nó nghèo, ngộ cũng nghèo. Nó rủ ngộ qua Việt Nam làm giàu. Nhưng xứ

Việt Nam cũng nghèo quá. Nó dẫn ngộ li chỗ này chỗ kia hoài. Ngộ than mỏi cẳng. Nó muốn pỏ ngộ, nên pảo ngộ ở lại nhà nị. Có cơm ăn, có vợ ngủ. Ngoại tôi trợn mắt:
-Trời đất! Sao lúc đó, mày không nói?
Ba tôi trả lời tỉnh bơ: -Nị không hỏi. Ngộ nói làm chi.
-Bây giờ nó ở đâu?
-Ngộ lâu piết.
-Nó có phải là thầy phong thủy địa lý không?
-Nó cũng như ngộ thôi. Piết chi mà làm thầy.
-Khốn nạn! Vậy mà nó bảo khu gò mả nhà ta là linh địa.
-Nó gạt nị, pảo lất của nị linh thiêng. Nị tin nó làm chi. Lất chỉ có tốt hay xấu thôi. Làm gì có lất linh hay không linh? Ruộng vườn nhà nị, gò cao lất cứng. Trồng trọt vừa lủ ăn là may rồi. Ngoại tôi tức khí, chửi đổng:
-Tổ cha thằng Chệt tha phương cầu thực, dám gạt ta!
Dù có tức, thì chuyện cũng đã đâu vào đấy, như một tiền định. Ông ngoại tôi tuổi già sức yếu. Không còn cơ hội trở mình. Ðành bỏ hết những vọng động lo toan. Làm người sằn dã.
Sống theo tinh thần Lão Trang. Hoà mình cùng trời đất. Yên phận với những nương xanh, bờ
cỏ, vườn cây.
Ba tôi nói:
-Nị là người trường thọ.
Ngoại tôi nạt:
-Lại nữa. Mày muốn bắt chước thằng Chệt tha phương cầu thực, gạt ta sao?
-Ngộ là con rể của nị. Lâu dám gạt nị. Năm nay nị gần pảy mươi, nhưng sức còn dẻo, lòng dạ thảnh thơi. Không làm thầy pói cũng piết, nếu không gặp tai nạn pất lắc kỳ tử, thì nị còn sống được nhiều năm nữa. Như thế không gọi là trường thọ sao?

-Ừ! Mày cũng có lý. Nhưng từ nay, ta cấm mày không được dùng hai tiếng nị ngộ với ta.
Phải gọi ta là cha, và xưng là con.
-Lược! Nị làm cha, ngộ làm con.

Tám mươi ba tuổi, ông ngoại tôi thanh thản từ giả cõi đời. Nhiều năm sau, má tôi kể lại cho đám con đầu gà đít vịt nghe chuyện tình duyên của má. Anh em chúng tôi cười nôn ruột.

Tôi hỏi:
-Tình duyên của má, nghe có vẻ quái đản. Vậy má có yêu ba không?

Má nói:
-Má không biết tình yêu là gì. Nhưng sống với nhau lâu năm, má cũng thương vì ổng có trách nhiệm gia đình, và biết lo cho các con.

-Lần đầu ngủ chung, ba có tâm tình gì với má không?
-Ngôn ngữ bất đồng. Ổng thủ thỉ thù thì xí xô xí xào bằng tiếng Tàu. Má không hiểu. Ổng xáp lại gần vuốt ve. Má cự tuyệt, hất ổng ra.

Anh tôi nheo một con mắt, chọc quê: -Má hất ổng ra, mà có sáu đứa con lai giống. Nếu không hất, chắc tụi con phải có đến hàng tá anh em. Chúng tôi lại cười nghiêng ngửa.
Một lần khác. Nhân lúc ba tôi nhắc lại quãng đời tuổi trẻ, tôi hỏi:
-Ba ơi! Ở bên Tàu, dòng họ mình có ai nổi tiếng trong lịch sử không?

Ông nói:
-Có chứ. Lâm Xung là một trong một trăm lẻ tám vị anh hùng Lương Sơn Pạt.

Thời kỳ chiến tranh nha phiến, tổng trấn lưỡng Quảng, Lâm Tắc Từ, lổ nha phiến của pọn Anh xuống piển. Và trong cuộc trường chinh của Mao Trạch Lông, có Lâm Pưu làm lến chức thống tướng.

-Còn ở Việt Nam, họ Lâm có ai nổi tiếng không?
-Mày học chữ Việt mà không piết ông Lông Hồ làm thơ nổi tiếng sao? Tên thật của ổng là Lâm Tấn Phát.
-Còn ai nữa không?
-Trong quân lội pây giờ, cũng có họ Lâm làm chức lớn. Bên Lục Quân có Lâm Quang Thơ, Lâm Quang Thi. Bên Hải Quân có Lâm Nguơn Tánh.
-Mấy ông ấy đâu có bà con gì với mình?
-Gốc gác cùng một ông tổ họ Lâm ở pên Tàu. Sao lại không pà con?
-Nhưng mấy ông ấy làm tướng. Còn nhà mình nghèo quá.
-Mới qua Việt Nam, thằng Chệt nào cũng chỉ có hai cái hòn dái treo tòn ten dưới háng.
Xây dựng sự nghiệp pan đầu, pằng cách quảy cặp gánh li mua ve chai, pán đồ cũ. Khá hơn, thì mở tiệm pán pánh pao, hủ tiếu. Piết chút ít chữ Tàu, thì mở tiệm pán thuốc Pắc cho pà con Việt Nam. Lâu dần, mới khá lên lược. Cũng như tụi pây lang li lính, piết lâu vài chục năm sau,
lược làm quan lớn. Quân lội Việt Nam sẽ có thêm vài ông tướng họ Lâm.

-Ấy là chuyện tương lai xa vời, còn mù mịt lắm. Hiện tại, tụi con đang làm lính tác chiến, lúc nào cũng có thể phủi chân lên ngồi trên bàn thờ.

-Sống ở lất nước này, phải hy sinh cho lất nước này, lền ơn tổ quốc.
-Ba nói nghe dễ sợ quá!
-Sao lại sợ? Tao ở pên Tàu qua lây, tin có ông Trời sắp lặt mọi chuyện. Như chuyện tao
với má tụi pây, cũng do ông Trời lịnh.

Anh tôi cải:
-Phải nói là do ông ngoại định.
Ba tôi lý luận:
-Ông Trời khiến ông ngoại. Ông ngoại ép má tụi pây phải chịu tao.
-Như vậy là má bị ép duyên!
Chúng tôi la lên. Lại được một trận cười nữa

Ai cũng có hai nơi, quê nội và quê ngoại. Anh em tôi chỉ có một quê ngoại làm chỗ đi về. Ba tôi bảo, nên học chữ Tàu, để ngày nào đó, sẽ về thăm quê nội. Chẳng đứa nào có được ý niệm, hoặc hình ảnh thân yêu gì về một quê nội xa xôi. Và cũng không bao giờ tha thiết sẽ đặt chân lên một nơi chốn, mà tất cả anh em tôi đều cảm thấy bơ vơ lạc lõng. Vì thế, chúng tôi không chịu học chữ Tàu. Ba tôi lại bảo, phải tập nói tiếng Tàu. Cái loại ngôn ngữ líu lo như tiếng chim, khó nghe khó nói. Anh em tôi không nghe không nói được. Rốt cuộc, ba tôi phảI tập nói tiếng Việt, nếu không muốn trở thành một người câm suốt ngày trong gia đình. Lý do cũng dễ hiểu. Mỗi lần ông la rầy bằng tiếng Tàu, chúng tôi giương mắt ngó cái miệng của ông, và cứ trơ ra, chẳng có phản ứng gì cả. Tức quá, ông học tiếng Việt để chửi chúng tôi cho hả dạ.

Vì thiếu quê nội, nên bao nhiêu tình cảm, tôi dồn về một quê ngoại mà thôi. Từ ngày ông ngoại tôi mất, gia đình nhà ngoại càng sa sút thêm. Chính sự sa sút này, làm tôi nặng lòng vớI bà ngoại nhiều hơn. Miệng đời thường nói, không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời. Không biết các đời trước ra sao, chứ đến đời ngoại thì tàn mạt. Nhiều người cho rằng, nhà hướng ra hàng cây duối, nên phong quang bị quỷ thần che ám. Cửa nhìn về đồng mả, nên vận mạng bị âm khí người chết phong tỏa. Vì hai điều khắc kỵ ấy, mà ngoại tôi không mong gì ngóc đầu lên nổi. Nhưng nhà cửa đất đai đã có sẵn như thế từ đời trước rồi, còn biết đổi dời đi đâu nữa?
Những năm chiến tranh ác liệt, xóm làng nhà ngoại cũng tan hoang. Ðầu tiên là khu đồng mả. Quân du kích lợi dụng địa hình gò đống lô nhô, chiếm lấy cao điểm, biến nơi đây thành bãi chiến trường, tấn công phe địch. Phía Quốc Gia phản công bằng cách dùng phi pháo cày nát khu đồng mả, đánh bật quân du kích ra ngoài. Khi chiến trường im tiếng súng, thì mả mồ cũng tanh banh, quan tài bật nắp. Xác chết của người đời nay, nằm lẫn với xương trắng của người đời xưa. Nhưng xác chết được mau chóng thu dọn, người ta mang đi đâu không biết. Rải rác còn lại những đầu lâu xương trắng người đời xưa.

Dưới cơn mưa mùa tháng bảy, ngoại tôi dầm mưa, gom lại từng khúc xương, chôn về huyệt cũ. Rồi ngoại thắp đèn đốt nhang trên bàn thờ khấn vái, và khóc còn hơn trời sầu đất thảm. Ðám con cháu ái ngại nhìn ngoại, nhưng chẳng đứa nào chạnh lòng khóc theo.

Tôi cầm tay ngoại: -Thôi đi ngoại ơi, tổ tiên ngày xưa lúc mới chết, đã được khóc một lần rồi. Bây giờ chỉ còn xương cốt. Lẽ nào mỗi lần nhìn thấy nắm xương là mỗi khóc?
Ngoại mếu máo: -Thời mạt pháp, quỷ dữ lộng hành. Người chết không yên mồ mả. Người sống làm sao sống được?
-Ngoại đừng lo chi cho hao tổn tinh thần. Người sống cứ ăn cơm vào, là tiếp tục sống thôi.

Ngoại tôi đang khóc, bổng ngừng lại, giận dữ điểm ngón tay vào mặt tôi:
-Tổ cha thằng
Tàu lai đầu gà đít vịt. Nói vậy mà nghe được sao? Làm người phải có nguồn cội. Ðừng nói theo kiểu bội nghĩa vong ân. Mày chỉ nghĩ đến ông bà cố tổ nội của mày nằm ở bên Tàu, chứ có thương xót chi người ở đây!
Bà con anh em bên ngoại tôi, đang cố tạo vẻ mặt rầu rầu cho phù hợp với nỗi sầu ai oán của ngoại, bỗng cười rộ lên. Ngoại cũng gạt nước mắt, cười theo.

Nhiều lần, sau những cuộc đụng độ giữa hai phe lâm chiến, xóm làng nhà ngoại tiêu điều thê thảm. Người ta dùng xe ủi, khai quang cây cối chung quanh khu đất gò. Những hàng tre, lùm bụi trong xóm cũng bị san bằng trống trải. Hàng cây duối, mà ngày nào đó, ngoại tôi nói có thần linh trú ngụ, cũng không còn nữa. Chẳng biết thần linh di tản nơi nào? Có dẫn đám binh gia rắn lục của ngài theo? Bây giờ, nhà ngoại đứng trơ vơ giữa đồng không mông quạnh. Ngó lên khu đất gò, mộ bia xiêu lệch, như những nấm mồ hoang. Quân du kích không còn nơi ẩn núp, lui sâu hơn vào những vùng hẻo lánh. Ban đêm. Thỉnh thoảng, họ về làng kiếm ăn, và rỉ tai ngoại tôi:
-Quân ngụy ác ôn. Cày mồ phá mả. Hủy diệt màu xanh. Triệt tiêu mầm sống. Phá hoại làng mạc. Ðem bom đạn giết hại dân lành…
Ngoại nói:
-Nếu các ông không núp ló trên khu đất gò, không rình mò bắn lén, thì bom đạn đâu có động đến mồ mả nhà tôi.
-Mẹ chiến sĩ đừng nói thế. Luận điệu mất lập trường của mẹ, dễ bị phê bình chỉ trích là phản cách mạng.
-Tôi có nhập bè kết đảng với ai đâu, mà bảo là phản?
-Mẹ nói thế là có ý gì?
-Tôi không có ý gì hết. Chỉ yêu cầu các ông, kéo nhau vô rừng mà đánh nhau. Ðừng lảng vảng chung quanh đây. Tôi sợ bị vạ lây. Tôi già rồi, chỉ mong được yên thân cho đến ngày nhắm mắt.
-Công cuộc giải phóng đất nước còn nhiều khó khăn, đòi hỏi nhiều hy sinh gian khổ. Mẹ ích kỷ, chỉ muốn được yên phần mẹ. Tư tưởng như thế, nhân dân không thể chấp nhận.
Ngoại tôi không dám nói tiếp. Khi người ta đã viện lý do giải phóng, thì không từ nan bất cứ biện pháp sắt máu nào. Khi đã lạm dụng đến hai tiếng nhân dân, thì mọi cá thể đều không nghĩa lý gì.Mãi lâu sau, có người hỏi ngoại:
-Già rồi, còn sợ chết hay sao?

Ngoại ngước mặt, nhìn trời: Thân phận hèn mọn như con trùn con dế, còn ham sống thay. Huống chi ta! Nếu đứng bên ngoài mà trông, nhà ngoại rất bề thế. Nhà rộng ba gian, nền cao lót gạch, mái ngói âm dương. Dù tường vôi loang lở nhưng còn thể hiện được cái quá khứ sung mãn một thời. Vào bên trong rỗng tuếch, mới thấy hết được sự suy sụp của thời gian, phơi bày ra nỗi nghèo nàn cơ cực. Ðồ đạc cũ kỹ, lâu ngày mối mọt hư hao. Cối xay lúa, và cối giã gạo chiếm gần hết gian nhà giữa. Hồi nhỏ, mỗi lần nghe tiếng xay lúa rồ rồ, tiếng giã gạo cùm cụp, thế nào tôi cũng ngủ gục. Có khi còn nằm lăn ra bên cạnh cối xay, thiếp đi một giấc ngon lành. Cái âm thanh và hình ảnh nghèo nàn thân thuộc ấy, tiềm tàng ăn sâu vào tâm thức, đeo đẳng theo tôi suốt đời. Nhiều khi bồi hồi nhớ lại, tôi tưởng chừng còn nghe tiếng cối xay đang rền rĩ trong đầu, và mềm lòng đến ứa nước mắt. Gian nhà trên, có bộ ván gõ. Mỗi tấm ván dày cỡ gang tay. Qua bao thế hệ thấm đẫm mồ hôi, mặt ván lên nước bóng ngời. Những trưa mùa hè, nằm trên bộ ván, nghe mát lạnh tấm lưng. Sát vách, có ba cái tủ thờ bằng cẩm lai khảm xa cừ, chạm hình cảnh và người. Tôi ngắm hoài không chán. Lớn lên, mới biết những hình ấy lấy sự tích từ truyện Tàu. Ðặc biệt hơn nữa, nhà ngoại có cái rương bằng gỗ, rất to. Tôi chưa từng thấy nhà ai có cái rương to đến thế. Cái rương to như chiếc xe bò. Phía dưới có gắn bốn bánh xe, cũng bằng gỗ. Ngoại tôi nói, vào thời trước, mỗi lần chạy giặc Tây, người trong gia đình phải đẩy cái rương chạy theo. Có lần ngoại mở nắp rương, tôi thấy bên trong toàn là chén dĩa bằng sứ, và những nồi đồng, mâm thau cất giấu lâu ngày không dùng, nên bị rỉ một lớp ten xanh.

Tôi hỏi:
-Chạy giặc, sao còn đẩy cái rương theo?
Ngoại nói:
-Bỏ lại, Tây sẽ lấy hết.
-Ở bên Tây không có những thứ này sao?
-Xứ nó nghèo, làm sao có được của quý? Nó qua xứ mình để ăn cướp.

Tôi tin lời ngoại, nhưng vẫn thắc mắc. Tây qua xứ mình chỉ để cướp đi những chán dĩa, nồi đồng, mâm thau thôi sao?
Ngày còn thơ ấu. Những buổi trưa, tôi thường nằm ngủ trên bộ ván gõ nhà ngoại. Khi thức dậy, thấy những tia nắng xuyên qua những lỗ hở trên mái nhà, dọi xuống. Trong tia nắng, có vô số hạt bụi bay vơ vẩn, như những sinh vật li ti đang bơi trong không khí. Không biết tại sao, cảnh tượng này, lại gây cho tôi một nỗi buồn khôn tả. Ðang buồn, nhìn vào phía trong lại thấy cái rương quá to. Ðiều kỳ lạ, là càng nhìn cái rương càng to ra, và tôi có cảm tưởng mình càng bé lại. Thế là tôi khóc.

Ngoại tôi cằn nhằn:
-Thằng nhỏ này có cái thói không chừa được. Lần nào ngủ trưa dậy, cũng khóc.
Cậu tôi là người rất dữ dằn, doạ nạt cỡ nào, tôi cũng không nín. Cậu bỏ tôi trong cái thúng. Ðặt cái thúng vào chiếc gióng. Cột dây thòng tôi xuống giếng.

-Nếu mày không nín. Tao thả rớt xuống luôn.
Tôi vừa khóc vừa nói:
-Thả rớt luôn đi.

Cậu từ từ thòng tôi xuống chạm mặt nước. Nước làm ướt đít tôi.
Cậu hỏi vọng xuống:
-Mày chịu nín không?
Tôi khóc, không trả lời. Cậu hạ thêm. Nửa người tôi ngập trong nước.Giếng quá sâu, không đủ ánh sáng. Nước lại lạnh. Thành giếng cũng toát ra hơi lạnh. Tôi quơ tay ra ngoài, đụng phải thành giếng rong rêu trơn nhớt. Cảm giác rờn rợn luồn vào da thịt, làm tôi khiếp vía. Hình như tôi bị ngộp. Không biết vì giếng sâu thiếu dưỡng khí, hay sự sợ hãi làm tôi khó thở. Tôi nhắm mắt lại, và muốn được chết ngay, để thoát cái cảnh bị hành hạ khốn nạn này.
Có tiếng ai la nheo nhéo trên miệng giếng. Và cậu kéo tôi lên. Tôi thấy ngoại đang khóc.Ngoại nhấc tôi ra khỏi cái thúng, mắng cậu: -Mày độc ác. Doạ kiểu này, nó hoảng hồn
chết luôn làm sao?

Cậu chống chế:
-Nó mà hoảng hồn? Thằng này lì lắm. Thiên lôi tầm sét, chưa chắc đã làm nó sợ.

Ngoại dẫn tôi vào nhà, ôm tôi và khóc. Trong khi ngoại khóc, tôi lại nín khe. Thương ngoại bao nhiêu, tôi oán cậu bấy nhiêu. Từ đó trở đi, nơi nào có cậu, tôi đều tránh mặt. Nghe tiếng nói tiếng cười của cậu, tôi cũng ghét. Ấn tượng một lần bị thả xuống giếng, tôi không bao giờ quên.
Sau này, cậu bỏ nhà theo Việt Minh. Trong gia đình ai cũng nhắc nhở, nhớ thương. Riêng tôi lại mong, cậu đi đâu thì đi luôn cho rồi. Ðừng về nữa. Thế nhưng, thỉnh thoảng cậu vẫn ghé về thăm nhà. Tôi chỉ chào hỏi qua loa, rồi lẩn mất. Những chuyến đi về của cậu, càng về sau, càng thưa dần. Rồi cậu đi biền biệt, bặt tin luôn. Ðến khi nghe tin cậu mất, mọi người trong thân tộc bàng hoàng. Má tôi chảy nước mắt như mưa. Ngoại xót xa rên xiết từng đêm. Tôi không hề xúc động, dửng dưng như người chưa từng quen biết. Cậu là người duy nhất trong dòng họ ngoại tôi, khi chết không đem được xác về chôn trên khu đất gò đồng mả.
Cái chết của cậu, một kẻ trở về kể lại, nghe cũng rất ly kỳ. Cậu đặc trách công tác nội thành. Lâu lâu, về mật khu để báo cáo tình hình. Một buổi chiều. Cậu cùng vài ba đồng chí về gần tới mật khu.Bỗng nghe bên đường, trong cây rậm, có tiếng hô lớn:
-Tất cả đứng lại. Giơ tay lên!

Cậu nói:
-Ðường sá xa xôi, mệt lắm rồi. Ðừng đùa, đồng chí ơi!
-Tao bắn bể đầu. Chứ đùa với mầy hả?

Những người cùng đi với cậu dừng lại, sửng sốt. Ðây là địa phận an toàn của Việt Minh, sao bị phục kích?
Từ trong cây rậm, ra lệnh:
-Thằng cha quấn khăn rằn trên cổ, đứng lại. Những người khác tiếp tục đi.
Cậu ở lại. Người ta dẫn cậu đến một cái chòi của rẫy bắp, trong rừng. Nơi đây, cậu được ăn một bữa cơm chiều với khô trâu. Sau đó, cậu bị chính những người đồng chí của mình kết tội, lợi dụng công tác nội nội thành, làm gián điệp cho Tây. Người ta trói, và dẫn cậu đến một cái giếng lạn, loại giếng bỏ hoang lâu ngày, khô nước. Cậu bị đập đầu, xô xuống giếng. Giữa rừng già mênh mông, tìm cái giếng để đem xác cậu về, không là chuyện dễ.

Vợ cậu, người tôi gọi bằng mợ, nhan sắc mặn mà, sắc sảo khôn ngoan. Mợ quyết chí trả thù chồng, làm đơn khiếu nại, tố cáo kẻ giết chồng mợ. Ðể tránh con mắt dò xét của người lạ, mợ giấu đơn từ vào trong chiếc nón lá, và chằm kín lại, trông như chiếc nón bình thường. Một ngày mưa, mợ đội nón lá ra đi. Tôi đứng trước thềm hiên, trông theo người đàn bà khốn khổ. Thấy mưa rả rích trên hàng dừa trước ngõ. Mưa mù tận ngoài bưng. Mưa khuất rặng cây xanh ở phía chân trời.

Ngoại tôi chạy theo, níu áo:
-Con ơi, người chết không sống lại được. Con khiếu nại, tố
cáo cho ra lẽ, thì chuyện cũng đã rồi.

Mợ nói:
-Người ta giết oan chồng con. Lẽ nào con cắn răng im lặng?
-Nếu không im lặng, con làm gì được ai?
Mợ nghẹn lời, rồi bật khóc. Cương quyết dứt áo ra đi.
Ngoại tôi lủi thủi quay vào. Ðầu tóc ướt mem. Ngồi rũ trong bếp.

Những ngày sau. Ngoại bồn chồn không yên, trông mợ trở về. Không phải để nghe mợ báo tin, trả được thù chồng. Ngoại chỉ sợ người ta sẽ thủ tiêu luôn cả mợ. Rồi mợ cũng về trong bơ phờ thất vọng. Những đồng chí cũ của cậu đều làm ngơ, không ai nhận trách nhiệm về cái chết của cậu.
Cái gan của mợ, chẳng biết lớn tới cỡ nào. Mợ nhất định rời khỏi nhà ngoại. Rời khỏi cái nôi của đại gia đình dòng họ nhà chồng, dẫn mấy đứa con nheo nhóc về vùng kiểm soát của Lực Lượng Liên Minh giáo phái Cao Ðài. Không lâu sau, mợ lấy một sĩ quan của Lực Lượng Liên Minh. Dựa thế lực chồng mới, báo thù cho người chồng cũ. Máu oan cừu của cả hai phe lại âm thầm đổ xuống. Không phải qua những đụng độ trên chiến trường, mà bằng những thủ đoạn rình rập chặt đầu, bắn giết thủ tiêu nhau. Và đó cũng là một trong những nguyên nhân đưa đến sự tàn mạt cho gia đình ngoại tôi. Bởi các đồng chí cũ của cậu, coi gia đình nhà ngoại là thù địch, luôn luôn theo dõi, gây ra nhiều nỗi khó khăn. Theo thời gian, nhà ngoại đổ xiêu rách nát. Bà ngoại tôi bỏ nhà, lên khu đất gò, nằm kế bên mả ông ngoại. Má tôi rầu rĩ ho lao, cũng vội vàng lên chiếm một chỗ trên khu đất gò. Ba tôi từ bên Tàu, theo ông thầy phong thủy địa lý giả mạo sang đây, bị bỏ rơi ở nhà ngoại. Ngoài người vợ Việt Nam, và mấy đứa con lai Tàu, ông không còn liên hệ họ hàng với ai. Khi má tôi từ giả cõi đời, ông buồn tình, không thiết sống nữa. Thế là ông tự động đứt mạch máu não, hôn mê mấy ngày trước khi bơi qua sông Nại Hà, theo cho kịp má tôi. Ðối với bên vợ, ba tôi là người ngoại tộc, nhưng cũng được đặc ân chôn trên khu đất gò đồng mả dòng họ ngoại tôi.Thời thế xoay nhanh đến chóng mặt. Mặt đất cũng biến đổi dị thường sau những thăng trầm dâu bể. Mồ mả tiên tổ bao đời của ngoại tôi, được lệnh bốc đi nơi khác. Trên quê hương xứ sở, còn có nơi nào được nằm yên vĩnh viễn? Thôi thì hốt cốt, dồn chung lại, hoả táng một lần cho xong. Khu đất gò, bây giờ là văn phòng Ủy Ban Nhân Dân Xã. Từ trên văn phòng Ủy Ban nhìn xuống, cái nền nhà cũ của ngoại, mọc lên hai dãy nhà kho, dùng chứa nông phẩm Hợp Tác Xã. Và vườn cây ăn trái phía sau nhà ngoại cũng bị san bằng, biến thành sân đá banh.
Dòng đời, và tất cả cơ ngơi của ngoại tôi, chỉ còn trong hồi tưởng.

Lâm Chương

***

Hoàng Anh 79
Thánh Ca Buồn Trong Gió

Mỏi mòn đợi dưới lầu chuông
Em đi biền biệt dặm đường chim bay
Mùa đông có chút heo may
Cơn mưa ngày cũ đến nay đã già

Chuông nhà thờ vọng nhẩn nha
Nhớ em tóc xoã mượt mà câu kinh
Thôi thì ta cứ nín thinh
Khoác lên chiếc áo làm linh mục buồn

Đứng trên sườn dốc mù sương
Dường như phía trước cuối đường lá phai
Ngậm ngùi sông núi thở dài
Nghe trong tiếng gió có bài Thánh ca

Sầu riêng chỉ một mình ta
Chắc rồi Chúa chẳng đi qua nơi nầy
Biết tình chết tận chân mây
Mà sao lòng vẫn đắng cay muôn phần

Nửa đêm mừng Chúa xuống trần
Lạy ngài ban chút hồng ân kiếp nàn
U mê cứ ngỡ thiên đàng
Tỉnh ra mới biết hỗn mang đất trời!

Hoàng Anh 79

***

Cái Trọng Ty
Khoái Châu

Ô lý sầu giăng ngàn dặm thẳm
Khoái châu bản địa bẻ kiếm treo
Oán ca nguyệt tận phường vô cảm
Nào hay thu tứ động bờ tây

Chuốt thêm túy lúy sầu viễn xứ
Đêm đêm ngóng vọng bến sao mờ
Thời lai mấy độ đời du thủ
Mắt bão đèn khuya vạn lý sầu

Phượng đã bao mùa trên bền cũ
Xanh xanh sóng nước vỗ bờ xa
Tráng sĩ ra đi không trở lại
Mồ hoa cỏ dại mấy thu phai

Vọng cố hương hề tiên tổ cội nguồn
Bến cộ đò xưa một chấm xanh
Đã mấy mươi mùa trăng cổ lục
vọng tiếng vô thanh tử cấm thành

Ta chôn tâm sự vô phương giãi
Có loài lau cỏ bạc mái đầu
Đêm kinh động sao mù mịt nháy
Tỉnh dậy mơ hồ nghe vó câu

Năm tháng chìm theo đạn réo tên bay
Hỡi những hồn ma ôm súng ngũ
Chân ôm mông mị về biên tái
Lính trận chết rồi ai khóc cho ngươi

Cũng đành thôi người bạn chiến chinh
Kiếp dã tràng xe cát phù vinh
Nhớ thương người bão dông trần thế
Đành thôi cuộc diện khuất sông hồ

Cái Trọng Ty

***

Nguyễn Đức Nhơn
Đường Vắng

Ta ngồi trên lưng ngựa
Mang kiếm sét giầy cùn
Gõ nhịp trên đường vắng
Bóng chiều bay mông lung

Lũ quạ xòe cánh mỏng
Lượn quanh bờ chiến hào
Quạ kêu vang rừng núi
Còn tanh mùi binh đao

Rừng giáp rừng hiu quạnh
Ta hát bài sơn ca
Núi rừng vang tiếng vọng
Chim giật mình bay xa

Cũng bày trò chiến quốc
Cũng hợp tung liên hoành
Bủa vây trùm trời đất
Trò chơi còn mới toanh

Con ngựa già đuối sức
Ta thấy lòng quặn đau
Con ngựa già ngã gục
Ta nát cả tâm bào

Ta lột giầy vứt kiếm
Ném mũ cởi chiến bào
Một mình trên đường vắng
Ta và ta dìu nhau

Ta cười vang cười ngất
Bầu rượu cạn từ lâu
Bỗng dưng ta muốn khóc
Khóc đến tận ngàn sau.

Nguyễn Đức Nhơn

***

Cao Thoại Châu

Em Là Người
Phiên Dịch Của Đời Tôi

Chiều lên xanh những nốt dương cầm
Sóng sánh trong mắt người yêu dấu
Vời vợi xa hồn tôi không bến đậu
Chỉ thấy nặng lòng vời vợi nhớ thương em

Tôi đang nghe giữa cuộc đời buồn
Tiếng em thấm vào hồn tôi thơm thảo
Giai điệu ấy làm sao tôi hiểu
Khi không lời phiên dịch của riêng em

Đêm nằm nghe chớp bể mưa nguồn
Ánh chớp giật mưa rừng bão biển
Lòng tôi đấy khi không nổi sóng
Giữa bốn bề đá dựng chênh vênh

Tôi đi chưa hết tháng năm buồn
Mưa và nắng ở hai đầu tít tắp
Tình em cho nồng nàn như nước mắt
Và ngậm ngùi day dứt nợ đời nhau

Đêm nằm nghe cơn gió qua cầu
Tôi mơ thấy mênh mông những nước
Tiếng róc rách không sao ngủ được
Khi thiếu lời phiên dịch của riêng em.

Cao Thoại Châu

***

Chu Thụy Nguyên
Bóng Quê Chìm Khuất

Và lửa vườn trăng nhen đã lâu
Bờ khuya tơ liễu rụng bên cầu
Bao nhiêu trăng nữa đầy non nước?
Người biệt, người trông, mắt đã sâu

Bóng nhạn về non thắp lửa hương
Chuyển rung bờ bãi sóng xô cuồng
Nghe rưng rưng gió hồn oan thác
Vai mẹ gầy hơn gánh nước non.

Đã mấy mùa hoa trên cỏ biếc?
Em thôi thắt bím nụ hồng tươi
Đã nghe lịm tím đời con gái
Gió chướng nồm nam lệ tả tơi.

Ly khách buồn đi chẳng thấy về
Ly hương cách xứ nỗi lê thê
Nhìn con nước lớn, ròng trăn trở
Khuất mất đâu rồi hình bóng quê?…

Chu Thụy Nguyên

***

Ngô Nguyên Nghiễm
Đường Gian Nan Chạy Suốt Kiếp Người

Bóng dáng của Vũ Hữu Định như một con ngựa hoang, ngày tháng chất chồng trên vó ngược mà chính bản thân chủ nhân cũng không lường trước được phương hướng để định vị cuộc đời trước mặt. Đã là hóa thân loài ngựa hoang, sự thuần hóa là điều không tưởng, bước đi nhảy vọt không hai chắn mắt, vì vậy hướng tương lai như chiếc bóng phù ảo, cứ chạy đuổi miệt mài trong cái hư không vô cùng tận. Có lẽ định mệnh quy cách cho một số phận đầy nghiệt ngã, khiến Vũ Hữu Định cứ rong cương cất vó vô định hình trong không gian lưu trú, lãng bạt suốt bề dài tuổi thanh niên. Cũng có lẽ bao nhiêu bất trắc cứ đổ đầy trên số phận nhà thơ, đem tất cả phong trần thế gian phủ chụp cho nát nhàu kiếp số. Long đong và nghiệt ngã bám đầy trên vai áo Vũ Hữu Định không biết bắt đầu từ lúc nào, nhưng khi anh gặp tôi tại Sài Gòn, hình như gió bụi cộng sinh đã là chiếc bóng gắn chặt vào cuộc đời, không tách rời khỏi được số phận và thơ Vũ Hữu Định. Chan hòa tan nát trong sự vần vũ của vũ trụ, bản thân như hạt cát lẻ loi giữa sa mạc, cái mất đi còn có hình thể gì đâu mà phải phân trần, nhưng cái còn lại của một tâm thức người thơ trụ lại được trong cái an nhiên, thì đó là cái khó được thử thách thật quyết liệt. Vũ Hữu Định biến hóa sự nghiệt ngã trở thành sự tịch tịnh hằng ngày trong hành xử với thế sự và chính bản thân, như một đóa sen hồng điềm đạm thanh khiết giữa tứ bề sương khói phủ vây. Trong đời tôi, giao tiếp thân tình với bằng hữu bốn phương, dĩ nhiên cũng gặp nhiều khuôn mẫu tuyệt vời trong cuộc sống. Nhiều nhân dáng chuyên chở từ tâm thức kỳ diệu gần như những đạo vị, được hóa thân tự tại, dù có quay cuồng trong nghiệt ngã… Vũ Hữu Định là một con ngựa bạch lãng bạt phiêu du dưới những giọt trăng vàng, đói hớp sương tạo dựng sự sung mãn cho khí thơ, hiện thành bất chợt luân lưu hòa nhập với từng đoạn đường trường sải vó qua truông.
Thản nhiên bước lên cuộc sống không giây phút bình yên, Vũ Hữu Định không bao giờ thiếu nụ cười cợt đùa với thế sự chung quanh. Thoạt đến thoạt di, là phương chăm hành sự khiến có lúc anh em quan tâm chờ đón cũng không định được phương hướng dừng chân của Vũ Hữu Định. Thật ra, hoàn cảnh bất hợp lệ khiến đời sống anh có một sự thay đổi lớn, luôn lăng ba vi bộ trước biến động trên lộ trình. Chính vậy, phần vì tế nhị với bạn bè, phần vì lãng bạt của tính nghê sĩ, Vũ Hữu Định di chuyển thường xuyên để khỏi phiền hà cho bằng hữu, hơn nữa sự ra đi cũng là những bước thơ rơi, giúp nhà thơ hóa hiện nhiều tác phẩm tuyệt cùng. Trong đời, có lẽ Vũ Hữu Định là một trong những nhà thơ viết dễ dàng và nhanh chóng trên bất cứ hoàn cảnh nào. Thơ Vũ Hữu Định bộc phát thật tự nhiên, như hoa phải nở, trăng phải soi và sương phải phủ mờ vạn vật. Bất chợt trên đường hoạn lộ, nhập tâm vào cuộc lữ hành và khiến thơ hóa hiện bằng những tinh túy vừa rơi rụng, làm nảy nở từng đóa hoa lung linh giữa trời đất…
Năm 70 cách đây hơn 40 năm, thời loạn ly giữa bao nhiêu tin chiến sự làm cuồng rối cuộc sống của quê hương, anh em văn nghệ cật lực bày tỏ tiếng nói của tuổi trẻ bằng những tạp san, rải rác hầu hết các tỉnh thành trong cả nước. Mỗi tờ báo đều có quan điểm riêng, nhưng tụ chung vẫn là mặt trận phản đối chiến tranh diệt chủng. Sự gặp gỡ tên tuổi hằng ngày trên các báo chí văn nghệ, đã giúp trong lòng anh em hình thành một sự quen biết vô hình, nhưng trân trọng nhau một cách chân thành. Đến khi có dịp giáp mặt thăm viếng, thì đã như mối thâm tình giữa những cố nhân. Vũ Hữu Định lếch thếch bộ hành qua cây cầu chữ Y dài gần 700m, vào tìm tôi ngay buổi trưa ngày giáng sinh 1971, nhốt cả hồn thơ trong một vóc dáng thấp đậm người, mà nụ cười là điểm chính yếu luôn hiện diện trên môi anh. Phong phanh trong chiếc sơ mi bỏ ngoài, lẹp xẹp đôi dép Lào bước vào tệ xá. Người mà Vũ Hữu Định gặp đầu tiên là Nguyễn Thành Xuân và Trương Quang Vinh, lần lượt xưng tên rồi khoác vai nhau kéo vào hàn huyên. Bản tính Vũ Hữu Định xuề xòa, cởi mở mà sự thong dong của anh hình như thể hiện được cung cách tự nhiên trong đời sống. Tôi chưa hề nghe Vũ Hữu Định than thở, dù từ thời gian 1970 – 1974 anh đi – về với tôi tại thư trang Quang Hạnh hầu như thường xuyên. Mỗi lần xuất xử với chuyện đời, Vũ Hữu Định thường về kể tôi nghe những diễn biến mà anh lượm nhặt được từ bốn phương trời, quy cũ lại và đưa ra trò chuyện với nhau.
Những kỷ niệm của nhiều người bạn làm văn nghệ, mỗi người có cách xử thế riêng biệt, đậm tính khí của tâm hồn mỗi cá thể. Nét tiêu dao phong thái của một Trần Kiêu Bạt có tính cách giang hồ, đậm nét lãng bạt Nam bộ và hy sinh như phong thái của Lương Sơn Bạc. Cung cách của một Nguyễn Bắc Sơn, lại đăm chiêu giữa cái khí cốt phương Đông, gác kiếm ngay trên trận chiến rượu tàn, mà phá phách chơi ở mọi điếm lữ trần gian. Phạm Nhã Dự thì lãng đãng trong sương mù của 18 thôn vườn trầu, mọi khí hậu tinh sương đều được nhà thơ cung hiến hết cho bằng hữu tâm giao, mà đối với anh, mới cũ vẫn tứ hải giai huynh đệ. Một Hà Thúc Sinh thì nhẹ hẫng bước phong lưu với đồng điệu, đến nỗi: “ Hà Thúc phu nhân coi buồn lắm/ Sữa thiếu làm sao tiếp rượu chồng”…Hằng hà sa số bằng hữu văn nghệ, cái tâm của anh em nhiều khi ảnh hưởng cực kỳ với sáng tác. Hình như tất cả chân thật của cõi lòng, dù ở bất cứ hoàn cảnh phủ chụp nào, cũng là một hạnh ngộ để nhào nắn giữa khuôn đời. Tôi cảm nhận, Vũ Hữu Định có một chút lãng bạt của Trần Kiêu Bạt, sự tự tin nhẹ nhàng của Hà Thúc Sinh, hòa – hoa – nghĩa – khí- chân – thành với đời sống như Phạm Nhã Dự, chút nghiêm cẩn rộng mở cái tâm bát ngát bốn phương như trường hợp Nguyễn Lê La Sơn…Chính vậy, bôn ba trong cuộc đời đầy hệ lụy, nhưng Vũ Hữu Định vẫn giữ vững được bản sắc du hành tuyệt diệu cho thơ. Đến đâu thơ cũng tràn ngập trên thần trí, tràn ngập cả không khí vây quanh. Tôi không hiểu ở thời đại Thiền sư Basho, khi chống gậy dặm ngàn sương gió, phong vũ có dồn dập ảnh hưởng đến phong thái ông như thế nào. Mà ngàn bài Hai Ku kỳ diệu lắng động cả thiên thu. Chỉ có điều hình ảnh của Vũ Hữu Định cũng có dáng dấp lênh đênh, trôi nổi giữa trần gian, trong cái tâm còn quầy quả xáo trộn vô thường, khác hẳn điều hạnh phúc an nhiên thiền vị của Basho, trên bước thiền hành. Thơ Vũ Hữu Định vẫn gieo hoa giữa không gian, đầm đìa cả một trời nghiệp chướng của nhân sinh, mà những khúc trường ca lỡ vận là một hướng nhìn tan tác tội nghiệp của kiếp người: “Ta đã hát khúc hát đời lỡ vận/ Hát âm u trong đêm tối một mình”, mà nhiều lúc tàn canh uống từng giọt rượu cô đơn để chợt thấm đẫm trách nhiệm cương thường: “Ta đã hát khúc đời lỡ vận/Khúc hát buồn như một khúc sông con/ Khúc hát cay như những lần uống rượu/ Khúc hát chua như một đĩa cũ mòn/ Khúc hát đời cha nay đến đời con”. Chợt nhớ trong bao lần ngẩng bóng để lãng quên, nhưng làm sao được, ở quê xa vẫn chợt ẩn hiện man mác đến đau lòng: “Mười năm cha mẹ đau chân sỏi/Sớm lặn truông xa, chiều lội bãi cồn”.
Vũ Hữu Định có một sự cương nghị trong cuộc sống, dù phôi pha có phủ đầy trên số kiếp nhưng đời thường anh vẫn trầm tĩnh đến độ phớt lờ những khắc nghiệt đó. Hình như, trong những cuộc giao tiếp, thần thái Vũ Hữu Định hòa đồng trong nếp sống hồn nhiên của mọi người, nhưng những đêm dài lẻ loi, đầy vơi ý nghĩ trên chén rượu, làm sao không bừng cháy những ám ảnh riêng tư: “Thời đại thánh thần đi mất biệt/ Còn lại bơ vơ một giống sầu/ Rót mãi, bao nhiêu tình cũng cạn/ Nâng ly, nhìn thấy tóc bạc mau”, những câu hỏi thường đặt ra như một cách tự vấn: “Anh là một gã giang hồ tới/ Lòng hoang như con lộ không đèn/ Ngồi với hồn sầu ly rượu cạn/ Sao mới vài ly mà đã say?”
Thế là, Vũ Hữu Định lưu vong sống trong Thư trang Quang Hạnh của tôi, thấm thoát cũng gần 4 năm, bắt đầu từ cuối năm 1971-1974. Thời gian vật đổi sao dời, đối với con chim di Vũ Hữu Định như một cái cớ để xếp cánh tạm lắng trong không gian ân tình. Tôi thường xuyên chở Vũ Hữu Định trên xe Honda 67, lúc thăm viếng A.Khuê, lúc qua Phạm Duy, hẹn hò Phạm Chu Sa…Đi xe máy thật ra là một phương tiện để di chuyển nhanh gọn, tránh cho Vũ Hữu Định những cuộc tra xét bất chợt giữa lộ trình. Năm 1973, có hai chuyến di chuyển đầy kỷ niệm, khắc sâu thêm tình cảm của Định với đồng bằng miền Nam, mà anh thường cười nói, nghĩa khí bạt ngàn trên từng cọng lúa. Trưa hè 1973, tình cờ Phạm Trích Tiên có lời nhắn gởi mời về thị trấn Tân An (Long An) cách Sài Gòn hơn 50 cây số, mà Phạm Trích Tiên rào đón, ngày cuối tháng lương bổng dồi dào, để khỏi mất mặt với phương xa. Thật tình tôi ngại đường xa và túy tửu vô chừng, nhưng Vũ Hữu Định lại phấn khởi, đốc xúi tôi làm một chuyến di chuyển cho biết một tỉnh lỵ miền Tây gần gũi Sài Gòn nhất. Chiều ý, tôi cũng đèo Vũ Hữu Định trên chiếc hắc mã 67, về hội ngộ Phạm Trích Tiên sau gần 6 tháng không gặp mặt. Cái đến thì tự khắc sẽ đến, sự chờ đợi của Phạm Trích Tiên cũng được đáp ứng với hiện diện của hai gã phiêu linh. Tiệc tùng đầy rẫy, rượu tràn khóe môi, tửu phùng tri kỷ, ngàn ly cũng chưa đầy. Ông Phạm Trích Tiên thì như hủ chìm, ông Vũ Hữu Định thì như rồng gặp nước…thơ thẩn vun vẫy tứ phương, ca ngâm loạn nhịp nào ai hay ai biết, vì thần trí gởi cả cho gió ngàn bay. Trong tiệc rượu tới giai đoạn tung khai lý lịch, hai nhà thơ chợt hét lên ôm chầm nhau trong một phút cảm ngộ tuyệt vời. Tôi còn ngơ ngác nhìn tìm hiểu, thì Phạm Trích Tiên cho hay khi nhắc đến gia đình, thì ra Vũ Hữu Định lại là con nuôi của người cô ruột Phạm Trích Tiên khi anh lưu lạc vào miền Tây khoảng tuổi thiếu niên. Thì ra mọi sự thế đều được an bày, có tránh được định mệnh đâu, mà phải thở than? Như trên chuyến đò ngang, kẻ thất phu cũng hiểu rằng giữa dặm trường vẫn còn tiếng gió sương vương vãi: “Chạnh lòng ngó chuyến đò ngang/ Tiếng kêu sương gió dặm đường quạnh hiu”.
Bản tính của Vũ Hữu Định là cả vì anh em, nên tôi chưa bao giờ nghe anh than phiền một ai, dù rằng trong đời sống phiêu lãng anh cũng gặp nhiều chuyện trái ngang thế thái nhân tình. Nhưng chỉ có một lần duy nhất, không biết Nguyễn Đức Sơn có thái độ ngang trái gì với chàng thi nhân gió bụi phong trần này, mà trong đời tôi chưa hề thấy cơn giận dữ nào khiến phủ lấp đầy vơi trên khuôn mặt luôn luôn nở nụ cười của Vũ Hữu Định. Ngày 29/07/1973 tại tệ xá, Vũ Hữu Định nghiêm chỉnh bày tỏ thái độ với Nguyễn Đúc Sơn trên một bức tâm thư, đích danh tranh luận chính kiến với danh dự của một kẻ sĩ…Tôi cũng không lạ gì tính khí trái trời của các chàng thi sĩ đầy vẻ độc tôn, để dành giựt ngôi vị bắc đẩu. Một việc làm nghi kỵ khiến đời sống chao đảo, đưa đẩy vào cái hư vị phù du, mà danh vọng chỉ làm bận lòng cho thơ. Tình cảnh Vũ Hữu Định trong giai đoạn cùng cực của nẻo sống, nên chỉ có danh dự là sự tự trọng chân thành. Anh trao tôi xem bản văn ngỏ với Nguyễn Đức Sơn, khiến tôi cũng buồn lây cho sự thế xáo trộn, thiện ác huyễn hoặc ẩn hiện giữa lớp người. Định tâm, tôi khuyên giải Vũ Hữu Định suốt hai ngày ròng rã, mới lấy được bản văn ngỏ lưu lại với thiên thu. Vũ Hữu Định thản nhiên bỏ lại những phiền toái sau lưng, lững thững lướt vào gió bụi. Bây giờ, thị phi không còn đọng trên nếp áo, nhà thơ chỉ biết nghiêng tai lắng nghe trời đất, vạn vật, để ôm cả buổi chiều rơi rụng vào thơ: “Anh có nghe bên đường tiếng chim kêu/ Con chim chi buồn chết cả buổi chiều”, hoang vu cô độc nhớ nhung chất chồng trên cả đường đi lối về, với: “Những con đường núi sâu hun hút/ Những phố đìu hiu không nhớ tên” và :“Thấy gì không giữa bao la?/ Bỗng nghe tim động nỗi nhà quạnh hiu.”
Bóng dáng khiêm tốn khi đứng vươn vai so bì với thiên địa, bản chất hạo nhiên lại là chân khí tuyệt diệu của thi nhân. Vũ Hữu Định thản nhiên trước mọi cuồng rối vây phủ chung quanh. Trong tâm thức chắc chỉ còn cô đọng một khối oan khiên cho riêng mình, mà nhiều khi số phận đã khiến nhà thơ trải lòng cảm ngộ với những bóng hình phủ chiếu xuống thân ta: “Chiều khó thở ngồi bên quán xếp/ Một miếng khô, một xị rượu nồng/ Nhai là nói với đời lận đận/ Uống là nghe sầu cháy long đong……Ta là khách, còn cô hàng là chủ/ Cũng có trong lòng một hố sâu.”
Trường đời dàn trải đầy nghịch cảnh gai góc, khiến suốt quãng đường đi qua của Vũ Hữu Định quay quắt như con vụ cuồng xoay. Cái điêu linh không thoát thành lời, họa chăng chỉ có thơ gieo từng hạt lân tinh trên đường phiêu bạt, đã làm cháy xém đi những tang thương chất chồng trên suốt một kiếp người…

Ngô Nguyên Nghiễm

***

Hồ Chí Bửu
Gởi Ti Ti…

Đùa thôi em – tình mình không có thật
Em quay về là tình chết trăm năm
Ta thức tĩnh khi biết mình sẽ mất
Một tinh cầu xa tít ở xa xăm..

Khi mọi thứ đã ngoài vòng tay với
Mơ mộng chi để chuốc khổ cho mình
Ta vẫn biết đâu có vòng tay đợi
Làm ấm lòng hạnh phúc quá chơi vơi

Em thả bắt còn ta vờ đưa đẩy
Một chút tình diệu vợi phía bên kia
Chưa đến đông mà lòng ta run rẩy
Khi chim quyên đã quên mất lối về

Em vẫn thế – Mong rằng em vẫn thế
Đừng nảo nùng trong một cuộc phân ly
Em vẫn thế – Mong rằng em vẫn thế
Bước chân buồn biền biệt dấu sơn khê

Ta vẫn thế – Suốt đời ta đơn độc
Gió theo mây và lá rụng về nguồn
Chạm đến em là chạm vào cơn lốc
Ta mỉm cười mà nước mắt mờ tuôn…

Hồ Chí Bửu
***

Songthy
Xuân Quê Tôi

Bạn đã bao giờ đến quê tôi
Một lần, dù chỉ một lần thôi
Thăm vùng sông nước ngàn thương ấy
Xa rồi lòng lưu luyến khôn nguôi

Quê tôi ruộng lúa trải mênh mông
Màu mỡ phù sa ngập cánh đồng
Lúa thơm xanh ngát chân trời rộng
Dập dìu cò trắng xoải thinh không

Cây trái bốn mùa đơm lá hoa
Trên cành chim ríu rít hòa ca
Chái bếp nhà ai vương khói ấm
Tình quê sao tha thiết đậm đà

Đất Vĩnh quê tôi đó bạn ơi!
Xuân về, dù cách trở ngàn khơi
Như cánh chim non lìa xa tổ
Niềm thương nỗi nhớ chẳng hề vơi…

Songthy

***

Mh. Hoài Linh Phương
Cúc Tím Trời Tây Hoài Nhớ Trời Đông

Cúc tím buồn mênh mang
Như hồn em son sắt
Một đời tình tan hoang
Người ngàn xưa xa khuất

Vạt cúc tím bên hiên
Mong manh trong ngày nắng
Cúi đầu trong ngày mưa
Qua từng mùa im vắng

Em ngàn thu áo tím
Kỷ niệm đầu chưa quên
Mối tình ngày thơ dại
Hoa tím buồn không tên

Những cánh nhỏ đơn sơ
Nở trên vùng địch đóng
Khi dừng bước quân hành
Thương em miền hậu tuyến.

Gọi tên loài cúc dại
Như tên người tình xa
Chiến chinh dài ngút mắt…
Trên đoạn đường người qua…

Người về đâu, ai biết?
Thiên đường nào, ai hay?
Thủy chung màu cúc tím
Bên hiên đời chiều nay…

Mh. Hoài Linh Phương

***

 

Nguyễn Đức Nhơn
Sau Một Đêm Say

Sáng thức dậy bỗng thấy mình lạ hoắc
Sau một đêm trằn trọc giữa cơn say
Đầu thì nặng như ngàn cân treo sợi tóc
Mà hồn thì nhẹ hều như gió như mây

Bước ra cửa thấy một ngày đổi mới
Bầu trời cao và những đám mây bay
Con chim khách đậu trên bờ giậu đổ
Mà bìm đâu đã phủ kín bao ngày

Châm điếu thuốc khói tảng lờ theo gió
Mà còn nghe đâu đó chút hương thừa
Ta lục lạo trong muôn ngàn ký ức
Vẫn thấy mình còn lạ hoắc lạ huơ

Sờ râu tóc, râu thì dài tóc ngắn
Tóc le the từng sợi bạc trên đầu
Râu thì phủ năm chòm dài suôn đuột
Che nụ cười vừa chết đứng trên môi !…

Nguyễn Đức Nhơn

***

Hồ Thụy Mỹ Hạnh
Em Là Nàng Tiên Của Anh

Bị lay gọi, nàng vùng dậy với tư thế của một con hổ đang chuẩn bị tấn công con mồi. Hai bàn tay xòe ra những ngón như móng vuốt vươn thẳng hai cánh tay về phía trước sẵn sàng cho một động tác…cào,cấu! Cùng với vẻ mặt căng thẳng, mắt lừ lừ nhìn vào “đối phương”, quai hàm bạch ra, tiếng nói nghẽn giữa hai hàm răng:
-Gư…ư…ư…gừ! anh giải thoát cho nó phải không? Tui sắp bắt được quả tang thì anh phá đám phải không? Nó đâu rồi hả?
Chàng ngơ ngác hỏi lại;
-Cái gì bắt quả tang? Nó nào?
Nàng òa lên khóc:
-Tui thấy rõ ràng anh và “nó” ôm nhau tình tứ, tui núp trong bụi cây, sắp nhảy ra bắt tại trận thì anh giải thoát cho nó…
Chàng càng sửng sốt:
-Hồi nào? Ở đâu?
-Vừa mới tức thì! Tui nằm mơ thấy rõ ràng…
Chàng ngẩng lên trần nhà, mắt nhắm lại, vẻ mặt nhăn nhó, như khẩn thiết cầu xin đáng tối cao ban cho điều gì:
-Trời ơi! Ngó xuống mà coi, đã đến nước này rồi.
Nhưng ngay tức khắc chàng đủ thông minh để chuyển tình hình sang hướng có lợi, chàng sực nhớ ra một cách để vỗ về nàng, mà chàng biết sẽ làm nàng hạ hỏa, dù chàng đã xử dụng nhiều lần nhưng kết quả bao giờ cũng thành công:
– Như vậy là em vừa nằm mơ thấy anh có mèo đúng không? Thảo nào em dãy dụa la lối quá xá nên anh phải gọi em dậy. À! Anh nhớ ra rồi, người ta nói giấc mơ thường ngược lại với đời thật, có nghĩa là em thấy anh ngoại tình, ngược lại là anh không…ngoại tình! Em thấy bắt được quả tang tức là …không bắt được quả tang! Túm lại ngược với giấc mơ em vừa thấy thì anh là người chồng chung thủy, còn em vẫn là nàng tiên của anh…
Vừa nói chàng vừa quan sát vẻ mặt của …Nàng tiên! Được vuốt ve bởi hai tiếng ngọt ngào ấy, con hổ bỗng biến ngay thành con mèo (Không biết bắt chuột) hiền lành, quẹt nước trên đôi mắt ràng rụa, nàng còn tỏ ra ngờ vực một chút nên hỏi lại:
-Thật chứ? Mơ là ngược lại đời thật, vậy em thấy em còn sống là em …chết ư?
-Ồ! Điều đó thì lại khác, bởi vì em là …nhân vật chính! Em làm sao mà chết được. Giống như trong phim ấy, nhân vật chính mà chết là hết phim sao?
Nàng lại nghe có lý, nên gật gù:
-Nhưng anh cũng phải hứa với em không được để mắt đến ai…
-Tất nhiên rồi, nhìn mỗi mình em đã đầy hai con mắt, còn nhìn ai được nữa!
Nàng lại có vẻ muốn…vùng lên:
-Ý anh muốn ám chỉ là em mập quá phải không?
Hơn ai hết, chàng là người biết phải đối phó với vợ của mình ra sao, trong bất cứ tình huống nào:
-Phụ nữ mập mới đẹp, mới lâu già. Chứ ốm á? Nhìn khô khan hổng có tí nhựa sống. Anh chỉ thích nhìn phụ nữ…mập thôi!
Nàng sửa lại:
-Nhìn vợ chứ cấm nói chung chung là nhìn phụ nữ!
Chàng cao giọng:
-Đúng! Vợ anh nói rất chính xác, anh vừa nói lộn. Phải nói là chỉ thích nhìn vợ thôi!
Nàng nhoẻn miệng cười, rồi sực nhớ ra một điều quan trọng, nàng hỏi:
-Trong ví anh chưa để tấm hình nào của em phải không? Sao em vô ý thế cà…Sáng mai anh đưa em đi chớp một tấm hình chân dung, anh phải cất trong ngăn đầu trong ví, để mỗi lần mở ví ra là anh nhìn thấy em ngay, cũng là để nhỡ có ai nhìn vào cũng biết là anh có vợ rồi, các cô đừng hòng tơ tưởng, mơ mộng đến anh nữa…
Vế cuối cùng trong câu nói của nàng chợt làm chàng thấy mình còn có… triển vọng! nghĩa là nếu chàng chưa có vợ, thì các cô (tức là số nhiều nhé) tha hồ mà tơ tưởng, mơ mộng được chàng ghé mắt đến. Rồi chàng sẽ ứng phó sao nhỉ? Tha hồ mà lựa chọn chứ sao! Tuyệt thế đấy, khi ấy hẳn là chàng sẽ bận tâm lắm vì biết chọn ai, bỏ ai? Bỏ thì thương mà vương thì tội, thôi thì cứ tuyển ra vài cô xinh nhất ( nhưng hổng có tính ghen tuông giống như cái cô nàng đang bên cạnh chàng đây) thế rồi chàng sẽ “bố trí ” cho mỗi nàng ở một chỗ, gió mát trăng thanh chàng thích ghé đến cô nào thì ghé, còn các cô thì tranh nhau để lấy được lòng yêu thương của chàng, chẳng cô nào dám làm phật lòng chàng, chàng thích đi đêm về hôm tùy thích. Tan sở thay vì về thẳng nhà chàng sẽ tụ họp bù khú với bạn bè, rượu chè thâu đêm cũng chả bị ai gọi điện thoại kêu về hay lùng xục tìm kiếm. Chàng cũng không bị bạn bè gọi là anh chàng …râu quặp! chàng cũng chả cần vận động đầu óc để nghĩ ra cách “đối phó” với những cơn tam bành vì cái máu hoạn thư của vợ.
-Anh nghĩ gì mà thích chí cười hớn hở vậy?
“Hồi tỉnh” khỏi… giấc mơ! Chàng nói trớ đi bào chửa cho sự tưởng tượng của mình, vì không khéo, nó có thể trở thành tưởng…voi!
-Ờ…ờ ! Anh đang nghĩ có tấm hình của em trong ví, cô nào nhìn thấy cũng quay khỏi anh một trăm tám mươi độ, anh khỏi cần tìm cách mời đi nơi khác đó mà…
Nàng vỗ hai tay vào nhau một cái đầy vẻ dứt khoát:
-Thế nên không chần chờ gì nữa, sáng sớm là phải đi chớp bóng ngay!
Chàng gật gù:
-Phải…phải, còn bây giờ thì yên cho anh ngủ. Sáng mai anh còn phải đi làm, đến công ty mà ngủ gục thì còn ra gì. Mấy cô ở đó là chúa lắm chuyện, lại xì xào nọ kia.
Chàng cố tình ngoác miệng ngáp dài một cái, rồi kéo chăn trùm kín (chủ yếu là hai lỗ tai) giả vờ ngáy đều đều. Nàng cũng không muốn chàng bị lỡ giấc ngủ, nàng cũng hiểu sức khỏe là thứ rất cần thiết đối với chàng, vì chàng là trụ cột của gia đình, cơm áo gạo tiền đều từ cái sức khỏe đó mà ra, ôi nghĩ mà thương quá, chàng đâu thể tưởng tượng rằng nàng yêu chàng quá chừng. Nếu không có chàng thì đời nàng vô nghĩa, nên lúc nào nàng cũng sợ một cô ả xấu xa nào đó cướp mất chàng đi. Phải giữ gìn sức khỏe cho chàng để chàng có thể vừa làm việc kiếm tiền nuôi nàng, vừa sống đến răng long đầu bạc với mình. Nên nàng thôi không nói nữa để chàng ngủ, còn nàng nằm yên mà không ngủ được thì tư tưởng lại…làm việc rất tích cực. Nàng nhớ lại giấc mơ vừa rồi, cố nhớ lại nét mặt của “cô ả” nhưng không thể nào nhớ được, dường như nàng chưa từng gặp ả ở bất cứ đâu, vậy mà giờ đây ả bất ngờ xuất hiện trong giấc mơ của nàng còn cả gan kề vai, cận má với chàng, thật đáng ghét, nếu có một phép lạ nàng sẽ ước trên đời này biến mất hết không còn giống cái, à! Như vậy không ổn, biến mất hết giống cái thì tất nhiên mẹ, chị, em gái, con gái và thậm chí cả nàng cũng không phải là ngoại lệ! Thôi vậy, chỉ ước biến mất những người con gái đẹp chung quanh chàng, còn bi nhiêu cứ tự nhiên mà …tồn tại! Và bỗng nhiên nàng chợt sực nhớ câu nói vừa rồi của chàng “Mấy cô ở đó là chúa lắm chuyện…” Á à , vậy là chỗ làm việc của chàng có đến mấy cô, mấy cô phải rất thân mật với chàng thì mới có thể tán chuyện với chàng chứ, thậm chí còn quan tâm, để ý mới biết chàng ngái ngủ. Hừm! Nàng lay mạnh vai chàng:
-Anh nói mấy cô ở nơi làm việc của anh là chúa lắm chuyện, như vậy là trước đây họ thường la cà nói chuyện gì với anh lắm nên anh mới biết như vậy phải không???
Chàng cựa mình, lè nhè đáp:
-Ai thèm nói gì chứ?Nghe nói đến vợ của anh là ai cũng xanh mặt liền…
Nàng vùng dậy :
-Cái gì ?Tại sao phải xanh mặt? Em dễ sợ lắm sao?
Chàng tỉnh người, vội vàng bào chửa:
-Không phải em dễ sợ mà là anh dễ sợ, bởi vì cô nào có ý định “xáp” vô anh là anh bảo ngay rằng, tui có vợ rồi đi chỗ khác dùm cho, chứ vợ tui biết tui nói chuyện với mấy cô là…là..tui không được tiếp tục nói nữa…, bởi vậy các cô hay nói rằng chỉ đi ngang qua anh thôi cũng…sợ! Đâu ai còn dám đến gần anh..
-Thật chứ?
-Thề với em!
-Được rồi anh ngủ tiếp đi, phải ngủ nhiều thì mới khỏe anh ạ.
Mắt của chàng đã díp lại, thầm mong nàng thôi đừng nhớ ra điều gì nữa trong vô số điều trong đầu mà đối với nàng thì điều gì cũng quan trọng.Còn nàng thì tiếp tục nằm suy nghĩ. Nhớ lại những ngày còn trăng mật, trong những câu chàng nói, nàng thích nhất là câu “Nếu sau này em chết trước anh, anh thề không lấy ai nữa, sẽ nguyện sống độc thân thờ em …”. Dường như lâu lắm rồi nàng không nghe chàng nhắc lại câu này, một câu quan trọng như vậy mà sao nàng lại quên nhỉ? Phải hỏi chàng ngay bây giờ rằng chàng có còn nhớ câu nói hay nhất thế kỷ ấy không, chứ sáng mai lỡ quên mất. Nàng lại lay chàng, nhất định hỏi thêm một lần này nữa rồi sẽ để yên cho chàng ngủ, sức khỏe là quan trong nhất đối với con người mà.
-Này anh ơi dậy em hỏi một câu này nữa thôi…
Chàng vẫn nhắm mắt,nhưng sử dụng miệng rất nhuyễn:
-Gì nữa hả nàng tiên của anh?
……………………………………..
Tôi (Người nghe chuyện của họ) mới nghe đến đây đã xanh mặt. Hú hồn! May quá, vì tôi là phụ nữ, chứ nếu là một trang nam nhi? Thì tôi phải làm sao nếu gặp được một nàng tiên …quá yêu chồng như thế. Trời ơi! Chắc là tôi đành phải chọn cách thờ chủ nghĩa độc thân tới già, không dám lấy vợ…
Nhưng tôi lại là phụ nữ? À…ờ…Thì …thì nếu lập gia đình tôi cũng giống như “Nàng” vậy thôi. Phụ nữ ai chả thế.

Hồ Thụy Mỹ Hạnh

***

Nguyễn Đức Nhơn
Tri Kỷ

Đâu còn sống được bao lâu nữa
Nên chẳng còn gì để luyến lưu
Ta như chiếc lá rơi ngoài ngõ
Chiếc lá ươm vàng, chiếc lá thu

Một mai em hỡi ta về đất
Em có buồn không em hỡi em ?!
Thôi cứ để cho lòng thanh thản
Bận bịu làm gì chuyện thế gian

Ta vẫn biết đời ta là cát bụi
Rồi sẽ tan đi một sớm một chiều
Nếu có ai nhỏ dùm giọt lệ
Thì cũng chỉ là giọt lệ thôi!

Ta một đời trầm luân bể khổ
Mượn rượu giải sầu sáng xỉn chiều say
Qua bao năm sao dời vật đổi
Tay trắng vẫn còn tay trắng tay

Một mai nếu có người tri kỷ
Nhắc lại đời ta trong tiệc vui
Thì cũng chỉ là thêm men đắng
Cho nồng thêm cốc rượu vậy thôi

Đời cứ thản nhiên trôi, trôi mãi
Đâu biết chuyện gì theo phía sau
Đâu biết chuyện gì chờ phía trước
Đến lúc đụng đầu mới biết đau !

Thôi nhé hồn thơ ta đã cạn
Mạch sầu ta cũng đã nguôi ngoai
Cho ta gởi đến người tri kỷ
Một chút vui buồn, một chút thôi!…

Nguyễn Đức Nhơn

***

Hồ Chí Bửu
Chia Tay Tôi Tình Ơi !

Cười lên nửa tiếng. Điên rồ
Đàn ru lỡ nhịp – Đợi chờ cố nhân
Ngước nhìn. Mấy dặm phù vân
Soi gương ta thấy chỉ ngần ấy thôi..

Hỏi đời – Thì đã nghẹn lời
Hỏi tình – Ngực trái nghe vời vợi đau
Hỏi người – Thì đã xa nhau
Hỏi ta thì đã vẫy chào tình nhân

Chào nhau – Thoáng cũng bâng khuâng
Nghĩa là ta sắp xa dấn – Dần xa
Kiếp người – Biển rộng bao la
Tiễn nhau mới biết rằng ta phụ người…

Hồ Chí Bửu

***

Hạt Cát
Trầm Bổng Chuông Ngân

Long lanh sương tụ ngọc,
Thanh thoát một hồi chuông.
Bình minh chim thức giấc,
Bảng lảng hồn muôn phương.

Gần đây, khi làm việc một mình trong phòng vắng canh khuya, tôi thường hay nối kết vào trang nhà Thiền Tông Việt Nam để nghe ba tiếng chuông ngân nga trầm bổng. Cũng không biết tại sao tôi lại thích nghe mấy tiếng chuông nàỵ

Hàng tuần tôi vẫn đến chùa lễ Phật, vẫn nghe đều đều tiếng mõ tiếng chuông, vậy mà những tiếng chuông tôi nghe ở chùa đã không lưu lại ấn tượng trong tôi nhiều như tiếng chuông mà tôi nghe được nơi trang Thiền Tông.

Có lẽ tiếng chuông ở chùa vang lên trong một khung cảnh mà con người bị chi phối ít nhiều bởi môi trường chung quanh. Dù mọi người đều trang nghiêm lễ lạy không ai nói với ai lời nào nhưng hình như âm thanh của tiếng chuông vừa vang lên đã bị lấn át bởi những tiếng động khác hoặc bởi va chạm với quá nhiều vật cản.Thỉnh thoảng vào các ngày lễ lớn, nhà chùa cũng có thỉnh mấy hồi chuông trống Bát Nhã, tiếng chuông trống trầm hùng ngân vang cũng khiến lòng người nao nao xúc động nhưng cảm giác đó hoàn toàn không như cảm giác khi tình cờ nghe một tiếng chuông thong thả ngân vang lúc mình đang làm một điều gì đó. Tiếng chuông không chờ không đợi,ta nghe nó một cách hững hờ — mà để lại những ấn tượng khó phai trong ký ức ta .

Tiếng chuông đó gợi cho tôi một cảm giác thân thương êm đềm mà có lẽ đã từ lâu tôi không còn bắt gặp.Tiếng chuông dường như đưa tôi đi về một vùng trời bồng bềnh mây trắng chiều hôm, có nắng mông mênh phai vàng nhè nhẹ, có gió mơn man hai hàng tre trúc biếc xanh thấp thoáng mảnh trời trong vắt ở một chốn quê êm ả cuối ngàỵ Tiếng chuông tan loãng trên đầu cây ngọn cỏ sương khói chập chờn cô liêu man mác như những lời thơ chan chứa màu quê.

渡江

幽煙蒼竹雜歸人
高底鐘聲薄暮雲
遠去關山啁哳鳥
呷茶慢慢渡江津

Ðộ giang

U yên thương trúc tạp quy nhân,
Cao để chung thanh bạc mộ vân.
Viễn khứ quan sơn trù triết điểu,
Hạp trà mạn mạn độ giang tân.

(Hạt Cát)

Qua sông

Em về ngõ trúc xanh xanh
Chuông ngân mây trắng mong manh chiều tà
Chim bay ríu rít quan hà
Thong dong hớp một ngụm trà qua sông

Ðang thơ thẩn đếm bước trên đường mòn xóm vắng chiều quê,rồi không dưng nghe được một tiếng chuông thong thả vang lên, hỏi lòng ai không xúc động rưng rưng. Cả đất cả trời dường như lắng động mà quyện lấy cái âm ba ngân vọng chơi vơi ấỵ Bầy chim vừa tung cánh ríu rít bay lên dường như cũng đang vỗ cùng nhịp điệu bổng trầm của tiếng chuông về một phương trời thăm thẳm nàọ Còn ta, đi hết lối mòn xóm quê, ghé vào quán cốc bên đường, hớp một ngụm trà, lắng nghe không gian tĩnh mịch, ta ung dung đợi chuyến đò sang … Ôi !Tiếng chuông ngân thanh thoát trong một buổi chiều quê! Nhớ thương sao trời đất, âm thanh thuở đó.

Chuông ngân vàng sóng lúa,
Sương khói đọng hoàng hôn.
Bồng bềnh mây du tử,
Hiu hiu lòng nước non.

Tiếng chuông đưa tôi về những đêm rằm tịch lặng, thơm ngát hương trầm, pha lẫn ngọc lan,dạ lý.Tôi nằm ngủ lơ mơ dưới chân Phật Bà, trong Quan Âm Các lộ thiên lồng lộng trời mâỵ Hít thở không khí thơm lành, nghe tiếng chuông ngân văng vẳng bên taị Không gian ấy, thời gian ấy sao mà êm đềm và chậm rãi bình yên biết baọTiếng chuông ngân nga trong giấc ngủ lơ mơ mới thật là kỳ thú, một cảm giác an lành tan loãng trong gió nhẹ thoảng hương tạo ra một thứ không gian trầm tịch vi diệu, tôi đắm mình trong giấc ngủ mơ màng, trong không gian trầm tịch đó.

Đêm thẳm tình mây gió,
Man mác trăng ngọc lan.
Khói trầm thơm tiếng kệ,
Sâu lắng hồi chuông tan.

Thuở ấy tôi chỉ là một con bé 7,8 tuổi đầụ Ðối diện với nhà tôi, cách một khoảnh vườn và quốc lộ 13 là một ngôi chùa nhỏ. Vườn chung quanh chùa nằm sát quốc lộ, rộng vài ba sào đất. Trong vườn trồng vài loại cây ăn trái, bốn bên có rào có cổng. Mặt tiền chùa hướng ra đường, chiếc cổng dẫn vào khuôn viên chùa nằm sát đường, ở chính giữa khu đất. Lối đi từ cổng vào độ vài chục thước. Vào tới sân đánh một cái vòng cung quanh Quan Âm Các mới đến chánh điện. Hồi đó, tôi chẳng để ý chi tới chuyện của người lớn nên hoàn toàn mù tịt về lịch sử của ngôi chùạ Ai lập ra, hồi nào, ai đến ai đi, ai thường hay lui tới ? Tôi chỉ biết là khi tôi bắt đầu biết nhận thức thì ngôi chùa đã nằm ở đấy rồị Gọi là chùa chứ thật ra có lẽ chỉ là một am đường do ai đó tạo lập cho một bậc trưởng thượng trong gia đình an dưỡng tuổi già. Bởi tôi vẫn thường hay sang chơi nhưng ít thấy thiện nam tín nữ nào đến cúng kiến lễ lạy gì cả. Chỉ có một vị sư bà,chúng tôi quen gọi là bà Chín, kinh kệ sớm hôm. Chùa chỉ có một gian. Mái lợp ngói âm dương, vách ván mỏng tanh. Bàn thờ Phật nằm giữa ngay cửa lớn ra vào, vách mặt trước phía trái trổ một khung cửa sổ chấn song nhưng không có cửa để đóng lạị Cạnh cửa sổ kê một bộ ván ngựa gỗ mỏng, chị em tôi thường hay ngủ trên bộ ván nàỵ Vách phải cũng có một khung cửa sổ chấn song, một bộ bàn ghế cũ kỹ được kê sát khung cửạ Sau bàn thờ Phật là hậu liêu được ngăn ra bằng một tấm vách có hai cửa nhỏ hai bên đi vàọ Phía sau lại có hai bộ ván gỗ nằm hai bên lối đị Lối đi mở cửa ra sân sau kê đầy lu, ảng chứa nước dọc hàng hiên. Qua hết mảnh sân con là nhà bếp. Nhà bếp chỉ có mái che và vách lá ba bên chứ chẳng có cửa nẻo gì cả. Ngoài mấy ông lò và ít cái nồi ám khói treo lủng lẳng trên vách, một bộ ván gỗ xấu xí nằm chỏng trơ, một chiếc bàn tròn thấp đã nhẵn mặt kê cạnh chiếc tủ lưới con con, trong có mấy cái chén mấy cái đĩa, chẳng còn gì khác hơn. Chùa cũ kỹ, nhưng có lẽ Quan Âm Các vừa được kiến tạo nên hãy còn mới mẻ lắm. Mái lục giác lợp ngói lưu ly xanh biếc che phía trên, tượng Phật Bà Quán Âm cao gấp rưởi người thật, trắng muốt, đứng trên tòa sen, tay cầm bình nước Cam Lộ và nhành dương, mái cũng khá rộng trụ trên 6 cái cột to, chung quanh chân cột có xây bệ đá lên cao chỉ chừa khoảng trống cho lối đi vào ở phía trước và phía saụ Nền nhà được nâng khỏi mặt đất, có bậc tam cấp đi lên và lát gạch bông mát rượi, thừa thãi chỗ cho hai chị em tôi tha hồ lăn sãi trên tấm chiếu trải sau lưng tượng. Trên bệ đá và chung quanh chân cột chưng bày mấy chậu hoa, kiểng. Có hoa ngâu, hoa chùm nụm, hoa dạ lý, hoa lài, nguyệt quế, hoa mười giờ, hoa móng tay, hoa vạn thọ. Trong các loại ấy tôi thích nhất là hoa dạ lý. Dạ lý có lá nhỏ như lá cây chùm nụm, hoa trắng, cánh li ti và nhọn hơn hoa mai rất nhiềụ Ban đêm hương bay phảng phất ngọt ngàọ Có lẽ vì vậy nên ngườI ta gọi là hoa dạ lý hương chăng? Khoảng sân bên hông chùa còn có một cây ngọc lan rất tọ Hai chị em tôi thường len lỏi trong mấy lùm cây ăn trái, tìm đến cây ngọc lan để hái hoa dâng lên cúng Phật. Hoa ngọc lan hay gọi nôm na là hoa sứ, từng búp hoa trắng muốt nõn nà như ngón tay con gái, tỏa ra một mùi thơm thoang thoảng . Các cô gái vườn quê thuở đó muốn …điệu đà thường hay hái hoa ngọc lan cài vào mái tóc. Người ta vẫn thường hay nói hoa dạ lý và hoa ngọc lan sống lâu năm sẽ có tinh linh cho nên mấy loại cây đó ưa được trồng trong sân chùạ

Tôi cũng không nhớ rõ vì đâu, dạo ấy hai chúng tôi được lệnh sang chùa ngủ …cho có bạn với sư bà. Chiều chiều, chị hai tôi và tôi ăn cơm xong là chúng tôi ôm cặp chạy qua . Hồi ấy tôi học lớp Tư hay Ba nên bài vở không nhiềụ Học bài xong, trời chiều hãy còn sáng. Trong khi chị hai tôi lịu địu trong hậu liêu với sư bà hoặc học bài của chị thì tôi hay thơ thẩn trong vườn chùa dưới mấy gốc cây ăn tráị Như ổi, xoài, phù quân. Hồi đó tôi mê trái phù quân lắm. Cái vị chua chua ngọt ngọt của nó hấp dẫn tôi hơn trái trứng cá và chùm giuột. Tôi cũng ưa săm soi mấy chậu hoa, kiểng và đi lang thang trên lối sỏi quanh Quan Âm Các. Có lúc tôi ngồi bệt xuống chân cột Quan Âm Các, mê mẩn ngắm vạt nắng cuối ngày le lói chiếu lên mấy cụm mây trôi lãng đãng trên nền trời trong vắt biếc xanh và tôi mường tượng rằng tiếng chuông của sư bà cũng đang chập chờn bềnh bồng trong những cụm mây ấỵ Tôi thả hồn theo chuông, theo mây tưởng tượng ra những chân trời xa lạ có bà Tiên từ ái áo trắng thướt tha, có nàng công chúa đẹp tuyệt trần đang nằm ngủ say chờ phép nhiệm màu, v.v… Lúc ấy, bao nhiêu nhân vật tôi ưa thích trong truyện cổ tích đều được tôi cho trôi nổi bềnh bồng theo mây hết cả. Khi trời tối hơn chút nữa, chúng tôi đem chiếu ra trải trong Quan Âm Các nằm ngắm trời trăng mây gió và nói chuyện tào laọ Tôi thích nhất là vào những đêm rằm, nằm ngắm mặt trăng tròn dành dạnh treo lơ lững trong khoảng không gian huyền hoặc lấp lánh ánh saọ Cái trí óc bé bỏng của tôi lúc bấy giờ lại đầy ắp những câu chuyện thần tiên. Nhìn ánh trăng loang loáng chiếu xuống cây cành trong vườn tôi cứ tưởng chừng như có ai đem tráng một lớp ngân nhũ lên trên ngàn lá, tưởng chừng như tôi cũng đang là một cô tiên bé bỏng dạo chơi trong vườn Thượng Uyển của bà Tây Vương Mẫu ở cung Giao Trì. Nằm ở đấy, tha hồ cho tôi hít thở không khí thơm lành đầy hương vị nhà thiền mà thuở đó tôi nào có biết. Nằm ở đấy, tôi nghe tiếng chuông ngân nga hòa lẫn tiếng dế giun ru êm trong đêm thâu tĩnh mịch cho đến khi ngủ lơ mơ. Tôi biết là tôi chỉ ngủ lơ mơ thôi, bởi vì khi đêm hôm chầm chậm đi vào sâu lắng hơn thì sư bà sẽ đánh thức, bắt chúng tôi dậy vào bên trong. Thường thì chúng tôi bỏ mặc chiếu ở đấy, mắt nhắm mắt mở chạy a vào bộ ván gõ kê phía trước leo lên ván tiếp tục mơ màng. Mọi vật trầm lắng, tĩnh mịch hơn. Không khí quanh tôi phảng phất hương huyền đàn lẫn với hương hoa ngoài cửa sổ hắt vàọ Tôi đắm chìm trong giấc ngủ cho đến lúc lại chập chờn trong tiếng chuông khuya .

Chuông khuya vang trầm bổng,
Chân vọng tiếng ngân dàị
Lòng nhân gian chợt mở,
Quên sạch nỗi trần aị

***

Thời gian ấy quả thật rất êm đềm đối với tôi, tôi cứ ước ao sao mỗi ngày đều được như thế. Nhưng rồi chuyện sang ngủ đêm bên chùa của chị em tôi chỉ kéo dài đâu được đôi ba tháng cho đến khi gia đình chúng tôi phải dời đổi chỗ ở xa hơn. Và rồi thời gian lại trôi qua một cách tình cờ, càng lớn lên, càng bận rộn với nhiều việc linh tinh khác. Tôi xa dần khung cảnh mái chùa xưạ Trong giấc mơ của tôi nhiều năm sau này vẫn hay thấy lại khung cảnh ngôi chùa nhỏ bé ấỵ Tận thâm tâm, tôi biết đó là ngôi chùa cho tôi nhiều cảm xúc êm đêm tuổi thơ. Nhưng trong giấc mộng tôi không tìm thấy được những hình ảnh cũ, quá nhiều thay đổị Hoa kiểng trong sân không còn được chăm chút xinh xắn gọn gàng ngăn nắp nữạ Thay vào đó là cây cối rậm rạp um tùm, Quan Âm Các và tượng Phật Bà biến đi đâu mất.

Tháng ngày chồng chất, tôi lớn lên lại đi biền biệt quê ngườị Biết bao năm tha hương đất khách, dù rằng tôi cũng có tham gia sinh hoạt tại ngôi Phật tự địa phương nhưng tôi thực sự chưa bao giờ nghe tiếng chuông ngân vang thong thả nào khơi động lòng hoài niệm của tôị Nhớ nhà nhớ quê tôi tìm về nguồn cảm hứng thi ca, văn chương hoài cổ, tôi tò mò tìm kiếm những âm ba quen thuộc của tiếng chuông và tôi bắt gặp ít nhiều tiếng chuông đồng cảm nhưng vẫn thấy những tiếng chuông ấy không trọn vẹn, dường như thiêu thiếu một cái gì. Ðiều đó cũng dễ hiểu, tôi làm sao có thể tìm lại được khung cảnh và tâm thức như thời xa xưa bé bỏng kiạ Nhưng mà rồi, tôi vẫn mơ, mơ một ngày nào được nghe lại tiếng chuông thời thơ ấu ấỵ Cho đến lúc gần đây,tình cờ tiếng chuông của trang nhà Thiền Tông đã dẫn dắt tôi đi về chốn cũ và nhắc nhở tôi ít nhiều dư âm những tiếng chuông xưạ
***
Xưa thật là xưa…Ta hãy lắng nghe tiếng chuông của Thi Phật Vương Duy đời Ðường khi ông về vui thú cỏ cây ở Võng Xuyên.
Là một trong ba đại thi hào lừng lẫy vào thời đại hoàng kim của thi ca Trung Quốc và cả thi ca nhân loại, lại là một mệnh quan triều đình, đồng thời cũng là một cư sĩ, tiếng chuông của ông nhẹ nhàng thanh thoát và cũng mộc mạc giản dị vang lên giữa xóm làng yên ả chiều hôm mây trắng mênh mông, núi xa man mác, lão ngư ông tiều lác đác về thôn. Mây trắng, mây và mây, mây trên núi chiều vàng lãng đãng, mây bàng bạc che kín cửa sài khiến lòng người lâng lâng thoát tục. Mặc ai xa mã náo nhiệt phồn hoa, ông thong dong ngày tháng với cỏ cây hoa lá. Lăng thảo Dương hoa, thâm sơn bạch vân, ngư ông tiều giả, sơn tăng thôn phu v.v…với ông đều là bạn hữụ Ông nghiên cứu Phật học năm 30 tuổi và học thiền với Thiền Sư Ðạo Quang. Ông ăn chay trường. Thi ca ông chất ngất thiền ngôn, Phật tính nên người đời sau tặng ông danh hiệu Thi Phật để phân biệt với Thi Tiên Lý Bạch, Thi Thánh Ðỗ Phủ và Thi Quỷ Lý Hạ.

歸輞川作

谷口疏鐘動
漁樵稍欲稀
悠然遠山暮
獨向白雲歸
菱蔓弱難定
楊花輕易飛
東皐春草色
惆悵掩柴扉

Quy Võng Xuyên tác

Cốc khẩu sơ chung động,
Ngư tiều sảo dục hị
Du nhiên viễn sơn mộ,
Ðộc hướng bạch vân quỵ
Lăng mạn nhược nan định,
Dương hoa khinh dị phị
Ðông cao xuân thảo sắc
Trù trướng yểm sài phi
(Vương Duy)

Về Võng Xuyên làm (*)

Nhẹ nhàng chuông ngân thung lũng
Ngư tiều lác đác dời chân
Núi xa hoàng hôn lãng đãng
Ngõ về mây trắng mông mênh
Cỏ Lăng mềm mại khó vững
Hoa Dương nhẹ hẩng dễ lên
Bờ đông cỏ xuân thắm đượm
Buồn buồn liếp cửa gài then.

Một tiếng chuông khác cũng vào thời nhà Ðường. Ðó là tiếng chuông của Giả ÐảọThời trẻ ông đi thi nhiều lần không đỗ bèn vào chùa làm tăng ở Lạc Dương, pháp danh Vô Bản, đến kinh đô ngụ ở chùa Thanh Long. Vì vậy ta không lạ gì khi tiếng chuông mà ông Giả nghe được là tiếng chuông trong đêm tĩnh mịch, non ngàn núi thẳm nơi mái chùa xưa lẫn khuất đâu đó khi mới sang thụ Nơi mà người thiền nghe dế gáy nỉ non quanh chỗ ngồi, khỉ vượn chuyền cành ngay trên chốn hạc dừng chân, tiếng chuông trầm hùng ngân vọng giữa canh khuya tịch mịch trên sông dường như đã khiến mặt nước rờn rợn sóng xao, màu trăng bàng bạc trên bến soi rọi khắp cùng thiên địa sáng quá, rõ quá làm lầu đá kia cũng toát lên một làn hơi lạnh lẽo, làm người và vật chẳng còn phân biệt đâu là chỗ của riêng aị Ai chủ ai khách, đâu dế đâu người, đâu hạc đâu viên? Cả một không gian im lắng nhưng sống động nhiệm màu theo tiếng chuông khuya ngân vang trầm bổng. Có chăng ai nghe được tiếng chuông này mà lòng không chút rưng rưng ?

早秋寄題天竺靈隱寺

峯前峯後寺新秋
絕頂高窗見沃州
人在定中聞蟋蟀
鶴曾棲處掛猿猴
山鐘夜度空江水
汀月寒生古石樓
心憶懸帆身未遂
謝公此地昔年遊

Tảo thu ký đề Thiên Trúc Linh Ẩn Tự

Phong tiền phong hậu tự tân thu,
Tuyệt đính cao song kiến Ốc Châụ
Nhân tại định trung văn tất suất,
Hạc tằng thê xứ quải viên hầụ
Sơn chung dạ độ không giang thuỷ,
Đinh nguyệt hàn sinh cổ thạch lâụ
Tâm ức huyền phàm thân vị toại,
Tạ công thử địa tích niên dụ

(Giả Ðảo)

Đầu thu gửi về chùa Thiên Trúc Linh Ẩn(*)

Sau trước non ngàn mới vẻ thu,
Cao ngất bên song ngắm Ốc châụ
Người thiền giun dế gáy rỉ rả,
Hạc đậu vượn hầu chuyền lau nhaụ
Hiu hắt nước khuya trầm chuông núi,
Lạnh lùng trăng bãi rợp mái lầụ
Nhớ cánh buồm treo lòng chưa thỏa,
Ông Tạ từng chơi đấy năm naọ

Cùng thời với thi Phật Vương Duy, ta còn nghe được một tiếng chuông khác của Mạnh Hạo Nhiên. Mạnh Hạo Nhiên cũng là một đại thi hào của thời Thịnh Ðường, là người mà cả Vương Duy, Ðỗ Phủ, Lý Bạch đều kính trọng. Ông chuộng khí tiết nên hầu hết cuộc đời ẩn cư ở Lộc Môn. Thi ca của ông chan hòa hình ảnh u cư của người ẩn dật.
Tiếng chuông chùa núi văng vẳng hư không trên đường về Lộc Môn trong buổi chiều tà đã khơi dậy nỗi niềm bát ngát của thi hào Mạnh Hạo Nhiên. Bến Ngư Lương kẻ qua người lại tranh nhau ồn áo náo nhiệt đã chẳng ảnh hưởng gì đến tâm tình của người ưa thanh nhàn u tịch, bởi vì ở Lộc Môn đã có vầng trăng bàng bạc chiếu soi đầu cây ngọn cỏ sương khói lững lờ đang chờ ông. Lộc Môn ấy là chốn ẩn cư tịch mịch, cửa đá nẻo tùng quanh năm quạnh quẽ chỉ đón nhận bước chân của khách ưa chuộng thói tiêu dao tự tại lui tớị

夜歸鹿門山歌

山寺鳴鐘晝已昏
漁梁渡頭爭渡喧
人隨沙岸向江村
余亦乘舟歸鹿門
鹿門月照開煙樹
忽到龐公棲隱處
巖扉松徑長寂寥
唯有幽人自來去

Dạ quy Lộc Môn ca

Sơn tự minh chung trú dĩ hôn,
Ngư Lương độ đầu tranh độ huyên.
Nhân tùy sa ngạn hướng giang thôn,
Dư diệc thừa chu quy Lộc Môn.
Lộc môn nguyệt chiếu khai yên thụ,
Hốt đáo Bàng Công thê ẩn xứ,
Nham phi tùng kính trường tịch liêu,
Duy hữu u nhân tự lai khứ.
(Mạnh Hạo Nhiên)

Khúc hát đêm về Lộc Môn(*)

Ngày tàn chùa núi tiếng chuông ngân,
Tranh vượt Ngư Lương lắm rộn ràng.
Người theo bờ cát về xóm bến,
Ta cỡi con thuyền xuôi Lộc Môn.
Lộc Môn trăng chiếu ngời cây cỏ,
Bỗng thấy Bàng Công chốn ẩn thân.
Cửa đá nẽo tùng luôn quạnh quẽ
Lui tới dành riêng kẻ chuộng nhàn .

Một thi nhân khác với tiếng chuông vang lên trong nắng hồng sương mai núi sâu rừng thẳm, đường lối quanh co vào cổ tự vắng vẻ thâm u, hoa lá che kín cửa thiền khiến khách ngẩn ngơ nhìn lại bốn bề, chỉ thấy chim chóc rộn ràng với ánh sơn quang, thấy bóng nước trong ao đầm yên tĩnh lặng lờ chẳng màng chi tới buồn vui nhân thế. Ðất trời tưởng chừng như vắng bặt trong cái vận chuyển không ngừng, nhưng không phải vậy, tuy thinh không vắng bặt mà đầy ắp diệu âm. Có ai đồng ý với tôi chăng ? Tiếng chuông vang lên trong không gian tĩnh mịch ấy cũng là một diệu âm. Ðó là tiếng chuông của Thường Kiến,thi nhân đời Ðường trong bài “Ðề Phá Sơn tự hậu thiền viện”.

題破山寺後禪院

清晨入古寺,
初日照高林。
曲徑通幽處,
禪房花木深。
山光悅鳥性,
潭影空人心。
萬籟此俱寂,
惟聞鐘磬音。

Đề Phá Sơn tự hậu thiền viện

Thanh thần nhập cổ tự ,
Sơ nhật chiếu cao lâm .
Khúc kính thông u xứ ,
Thiền phòng hoa mộc thâm .
Sơn quang duyệt điểu tính ,
Đàm ảnh không nhân tâm .
Vạn lại thử câu tịch ,
Duy văn chung khánh âm .
(Thường Kiến)

Ðề thiền viện sau chùa Phá Sơn(*)

Sớm mai vào thăm chùa cổ,
Rừng cao chơm chớm nắng hồng.
Lối quanh núi đồi lặng lẽ,
Cỏ hoa che kín thiền phòng.
Ánh núi ca vui chim chóc,
Bóng đầm chẳng bận tấm lòng.
Muôn tiếng thinh không vắng bặt,
Chỉ nghe ngân vọng khánh chuông.
***

Ðấy là một vài tiếng chuông của người xưa trong kho tàng thi ca Trung Hoạ
Trở về với thi ca hoài cổ Việt Nam ta, ta hãy ghé mắt, lắng tai nghe một tiếng chuông gần hơn, khoảng vài trăm năm sau Thi Phật nhà Ðường, Vua Phật Trần Nhân Tông đời Trần của Việt Nam tạ Một đấng quân vương, một bậc hùng tài vĩ lược, một người đã từng nắm trong tay quyền uy tối thượng, đứng đầu một triều đại làm kinh hồn khiếp vía đội quân viễn chinh hùng mạnh bậc nhất thế giới vào thế kỷ 13, đã từng sống trong điện ngọc cung son, rồi sau cùng là Tôn Tổ sáng lập nên thiền phái Trúc Lâm trên đỉnh Yên Tử vẫn còn kế tục cho đến bây giờ. Thân danh như thế, uy quyền như thế …vậy mà tiếng chuông để lại trong tâm hồn Ngài, trong thi ca Ngài cũng lại là tiếng chuông ngân vang trên sông nước chiều hôm bóng tà cỏ áy, trong chốn thâm sơn tĩnh mịch lá úa hoàng hôn. Tiếng chuông mộc mạc đơn sơ mà giao hòa cùng khắp đất trời, có năng lực thẩm thấu tận ngọn nguồn tâm cảm, có công dụng phá tan ám chướng si mê. Tiếng chuông giản dị như chân lý thiền ” Cơ tắc xan hề khốn tắc miên – “Ðói cứ ăn đi, mệt ngủ liền” của một Thiền Tổ gióng lên hẵn nhiên là ẩn tàng diệu dụng thâm sâụ

武林秋晚

畫橋倒影蘸溪橫
一抹斜陽水外明
寂寂千山紅葉落
濕雲和露送鐘聲

Vũ Lâm Thu Vãn

Hoạ kiều đảo ảnh trám khê hoành
Nhất mạt tà dương thuỷ ngoại minh
Tịch tịch thiên sơn hồng diệp lạc
Thấp vân hoà lộ tống chung thanh
(Trần Nhân Tông)

Chiều thu làng Vũ Lâm(*)

Suối khe lồng bóng cầu treo,
Long lanh ngấn nước nắng chiều nghiêng soị
Núi non quạnh quẽ lá rơi,
Phôi pha sương khói mây trôi chuông rền.

Và cũng lại là mây, tiếng chuông bao giờ cũng ngân vọng xa xăm, tưởng chừng như có thể tan loãng ra trong những áng mây bàng bạc khiến cho mây đã bồng bềnh càng thêm nhẹ tênh, càng thêm bồng bềnh càng đưa lòng người phiêu phiêu vô trước.
Tiếng chuông ngân vang từ một ngôi chùa cổ ở thâm sơn cùng cốc phải chăng nhắc nhở ta rằng nơi sâu thẳm nước non kia dường như đang tàng ẩn một chân lý huyền nhiệm khó thể kiếm tìm nào đó mà thật ra con người sống nơi ấy chẳng hề phí công tìm kiếm điều gì. Trăng ngàn gió núi, mây nước trời không, tặng vật của thiên nhiên trước mắt đã là chân lý muôn đời có sẵn.
Nếu không phải vậy,sao một ông tăng hỏi thiền sư Triệu Châu :
– Chân lý tối thượng là gì ?
Và thiền sư trả lời:
– Cây bách trước sân…

諒州晚景

古寺淒凉秋靄外
漁船蕭瑟暮鐘初
水明山靜白鳥過
風定雲閒紅樹疎

Lạng Châu Vãn Cảnh

Cổ tự thê lương thu ải ngoại,
Ngư thuyền tiêu sắc mộ chung sơ.
Thuỷ minh sơn tĩnh bạch điểu quá,
Phong định vân nhàn hồng thụ sơ.
(Trần Nhân Tông)

Cảnh chiều Lạng Châu(*)

Mây thu lạnh lẽo chùa xưa
Thuyền ngư xao xác thoảng đưa chuông chiều
Cò bay non nước quạnh hiu
Gió yên mây nhẹ liêu xiêu lá hồng.

Tiếp theo tiếng chuông của vua Phật Trần Nhân Tông, tôi tình cờ bắt gặp tiếng chuông của một bậc hào sĩ, giữa ải quan mắng con chớ khóc lóc theo nhi nữ thường tình mà hãy lo gầy dựng nên công nghiệp lẫy lừng để trả thù nhà nợ nước, là đấng sinh thành của một khai quốc công thần nhà Hậu Lê – Triều đại khiến quân xâm lược nhà Minh phải cuốn gói chạy dàị Ðó là Nguyễn Phi Khanh, bài thơ này của ông nằm trong phần phụ lục Ức Trai thi tập do phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa ấn hành năm 1972

Tiếng chuông chiều của Nguyễn Phi Khanh gióng lên ở chốn làng quê. Nhìn bóng tùng khóm trúc phất phơ. Nâng chung rượu ngắm màu thu man mác. Trời rộng trăng ngàn, mây cao nhạn tít, lang thang gậy trúc dạo bước chiều hôm bỗng nghe một tiếng chuông ngân lờ lững. Lòng nhân thế chợt lâng lâng quên đi phiền toái, phên trúc khép rồi là cách biệt nhân gian.

村居

松筠三徑在
歲晚薄言歸
把酒看秋色
攜筇步夕暉
雲空山月出
天闊塞鴻飛
忽聽昏鐘報
呼童掩竹扉

Thôn cư

Tùng quân tam kính tại
Tuế vãn bạc ngôn quy
Bả tửu khan thu sắc
Huề cùng bộ tịch huy
Vân không sơn nguyệt xuất
Thiên khoát tái hồng phi
Hốt thính hôn chung báo
Hô đồng yểm trúc phi
(Nguyễn Phi Khanh)

Ở quê(*)

Bóng tùng xanh ba dãy,
Năm hết gửi ít lời
Ngắm thu nâng chén rượu
Chống gậy dạo chiều lơi
Mây cao trăng lấp ló
Trời rộng nhạn chơi vơi
Bỗng nghe chuông chiều vọng
Bảo trẻ gài phên thôị

Và tiếng chuông tiếp theo là của một người họ Nguyễn vốn là con cháu ngoại tộc họ Trần, người từng một thời oanh liệt giúp nhà Hậu Lê dựng nghiệp, lừng lẫy với bài Bình Ngô Ðại Cáo, sau mười năm gian khổ kháng chiến chống quân Minh được liệt vào hạng đệ nhất khai quốc công thần, được phong tước Quan Phục hầụ Ðó là một trong những con người tài ba lỗi lạc của lịch sử mà năm tháng cuối đời lại bị một nỗi oan khiên bi thảm trong vụ án Lệ Chi Viên. Nguyễn Trãi là nhà văn hóa, nhà chính trị, nhà quân sự và một nhà tư tưởng lớn mà cả cuộc đời đã tận tụy lo cho dân, cho nước.

Tiếng chuông của Nguyễn Trãi trong thời gian này có lẽ là lúc ông đã về trí sĩ ở Côn Sơn, huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương năm 60 tuổị Phải chăng đấy là tiếng chuông chùa Côn Sơn, nơi mà Băng Hồ tướng công Trần Nguyên Đán, ông ngoại nhà thơ đã sống ẩn dật ở đó và cũng là nơi mà một phần tuổi ấu thơ của ông đã trải quạ

Trai phòng vắng lặng mưa gió suốt đêm thê lương ảm đạm, gối khách ngẩn ngơ nghe tiếng mưa rơi giọt giọt đếm canh tàn, nghe khóm trúc xạc xào cọ vào song cửa, tiếng chuông vang lên trong giấc điệp mơ màng khiến tâm tư con người không thể an nhiên chìm vào giấc ngủ say sưạ Cảnh này tình này, u tịch nào hơn, phải chăng đây là một tiếng chuông cảnh tỉnh, quan trường sớm nắng chiều mưa, phú quý hiển vinh rồi cũng như mây trôi nước chảỵ Án Lệ Chi Viên chỉ là một cái cớ của những sự tranh dành quyền lực chốn cung đình thâm sâu bí ẩn. Than ôi ! Công hầu khanh tướng ! Cho dù truyền thuyết rắn báo oán chỉ là một tấm bình phong che đậy những âm mưu chính trị nhất thời nhưng nó cũng đã soi rõ tính chất vô thường của vạn vật.

聽雨

寂寞幽齋裡
終宵聽雨聲
蕭騷驚客枕
點滴數殘更
隔竹敲窗密
和鐘入夢清
吟餘渾不寐
斷續到天明

Thính Vũ

Tịch mịch u trai lý,
Chung tiêu thính vũ thanh.
Tiêu tao kinh khách chẩm!
Điểm trích sổ tàn canh.
Cách trúc xao song mật,
Hoà chung nhập mộng thanh.
Ngâm dư hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.
(Nguyễn Trãi)

Nghe Mưă*)

Mơ màng phòng trai vắng lặng,
Suốt đêm nghe tiếng mưa rơi
Giật mình xác xao gối khách
Ðếm canh từng giọt chơi vơi
Khóm trúc xạc xào song cửa
Chuông ngân mộng mị bồi hồi
Ngâm vịnh chán còn chưa ngủ
Nối,ngưng cho đến sáng trời

Gần với thời đại chúng ta hơn, có tiếng chuông của một thi sĩ tiền bối ảnh hưởng ít nhiều triết lý thiền môn. Cố thi sĩ Quách Tấn (1910 – 1992) là một trong Bàn thành tứ hữu (dân Bình Định gọi Hàn Mặc Tử là Long, Chế Lan Viên là Phượng , Quách Tấn là Quy và Yến Lan là Lân), là người đại diện cuối cùng của trường phái thơ cổ điển Việt Nam tiếp theo thi sĩ Tản Đà. Tiếng chuông chùa đối vớI ông là một âm điệu nhu nhã thiêng liêng văng vẳng từ tiềm thức thâm sâu nên tiếng chuông thường hay trỗi dậy mỗi khi ông trông thấy phong cảnh u tịch của chùa chiền non nước …

“Trăng lên đồi Trại thủy
Chuông khua ngời âm ba
Bồi hồi mây khóa viện
Sân Bồ đề sương sạ”

Tiếng chuông trong hồn cố thi sĩ Quách Tấn là tiếng chuông mơ hồ nhận diện một cõi nhân gian hư ảo, chuông đã tạnh rồi nhưng không gian không ngừng âm ba của tiếng ngân trầm tịch, ngân mãi,ngân mãi với gió ngàn mây trắng chiều hôm…

Gió ru hồn mộng thiu thiu
Chuông chùa rơi rụng bóng chiều đầy non.”

Tiếng chuông rơi trong bóng chiều, rơi xuống cõi
lòng nhân thế khiến tâm hồn con người thêm lãng đãng,niềm mây nước mênh mông,dạt dào tình cố
cựu …

Mây nước nhuốm phong trần
Nơi đâu tình cố nhân
Những đêm buồn tỉnh giấc
Chùa cũ tiếng chuông ngân.”

Chùa cũ, chùa cổ, mái chùa thấp thoáng tỏ mờ trong áng mây trắng bàng bạc xa xăm của bậc ẩn giả hạc nội mây ngàn tháng ngày phong nguyệt tiêu dao như hư như thực, tiếng chuông ngân vang như có như không. Kìa những vòng sóng long lanh trên hồ mây biếc liễu, vòng sóng hay âm ba của tiếng ngân vang vọng, vang vọng mãi ngàn năm. Có là không mà không cũng không nốt.

Chùa ẩn non mây trắng
Bóng in hồ liễu xanh
Mai chiều chuông đã tạnh
Vòng sóng còn long lanh.”
(Giọt trăng – Quách Tấn)

Lại thêm tiếng chuông của một thi sĩ thiền sư hiện đại, tuy bây giờ ông chẳng phải là một thiền sư đầu tròn áo vuông như ngày trước nhưng dù thế nào đi nữa, tiếng chuông trong thi ca, trong tâm hồn của ông vẫn đầy hơi hướm mê ngộ vọng chân, vẫn bâng khuâng khơi động tâm tư người ta tới tận cùng sâu thẳm.
Ta hãy nghe tiếng chuông ngân vọng theo sóng nước đêm trăng, màu thu bàng bạc, một chiếc thuyền con buông lái, trăng và chuông tan loãng vào nhau đi về cõi xa xăm tịch tĩnh. Hư vô chìm ngập không gian, đâu bến đâu bờ ?

Thuyền ai buông lái đêm rằm
Sông thu ngân thoảng chuông trăng rì rào …
(Ðộng hoa vàng – Phạm Thiên Thư)

Chao ôi ! Hạt thiên thư ! Hạt thiên thư !Tiếng chuông vang vọng chơi vơi dần dần thấm đẫm vào từng hạt bụi của thế giới nàỵ Ôi ! hạt bụi nhỏ nhoi nhưng mà một khi thấm đẫm tiếng chuông ngân nó có khả năng làm đảo lộn diện mục của vũ trụ, đó chính là nguyên nhân tạo tác nên nỗi thiên thư bồng bềnh. Có phải thế chăng, hỡi bác Thiên Thư ? (Vạc rằng hỡi bác Thiên Thư, mặc chi cái áo thiền sư ỡm ờ ?)

Chuông ngân chiều lặng trầm tư
Tiếng lơi đẫm hạt thiên thư bềnh bồng
(Ðộng hoa vàng – Phạm Thiên Thư)

Và sau rốt,nói đến âm ba của những hồi chuông kim cổ mà quên nhắc tới tiếng chuông Hàn Sơn Tự quả là một thiếu sót lớn laọ
Hàn Sơn Tự là một cổ sát (cảnh chùa xưa) nổi tiếng ở phía Tây trấn Phong-Kiều thuộc tỉnh Tô Châu,Trung Quốc. Ðược xây dựng vào niên hiệu Thiên-Giám đời Lương (502-519) và đã được đặt tên là Diệu Lợi tự. Về sau chùa được gọi là Phong Kiều tự vì ở gần cầu Phong Kiềụ Đến đời nhà Đường vì có hai thiền sư là Hàn San và Thập Đắc đến trụ trì ở đó nên chùa lại được đổi tên là Hàn San tự. Chùa từ thời đó đến nay đã trải qua nhiều lần trùng tu nên không còn giữ được kiến trúc ban đầu nữạ Nếu so với các ngôi chùa khác ở Trung Quốc thì chùa Hàn San không có gì đáng kể về mặt kiến trúc nhưng lại rất nổi tiếng nhờ có bài thơ Phong Kiều Dạ Bạc của Trương Kế.
Đây, tiếng chuông Hàn Sơn Tự, tiếng chuông trên bến Phong Kiều, trong lòng kẻ lữ thứ, đêm dài nằm trên thuyền nghe quạ kêu sóng vỗ, ngắm đèn chài leo loét sông khuya đắm chìm trong trăng tà sương lạnh mà ngậm ngùi thân thế, tất cả những thứ đó phủ trùm lên vạn vật một cảnh sắc thê lương nhưng tiếng chuông ngân tình cờ nửa đêm đã làm lữ khách ấm lại tấc lòng cô quạnh, đã khơi dậy hứng thú cho một giai thoại thi ca còn được truyền tụng ngàn năm. Ta hãy lắng nghe tiếng chuông này với tấm tình của một kẻ tha hương linh đinh sóng nước quê người mới thấm thía hết nỗi niềm của nó.

楓橋夜泊

月落烏啼霜滿天
江楓漁火對愁眠
姑蘇城外寒山寺
夜半鐘聲到客船

Nguyệt lạc ô đề sương mãn thiên
Giang phong ngư hoả đối sầu miên
Cô Tô thành ngoại Hàn San Tự
Dạ bán chung thanh đáo khách thuyền

Bài thơ này đã có rất nhiều thi sĩ tiền bối dịch theo nghĩa chính rồi, tôi muốn thổi cho nó một luồng gió mới mát mẻ nên xin phóng dịch lại theo ý riêng gọi là hoài niệm cổ nhân vậỵ

Quạ kêu sương lạnh trăng tà.
Đèn chài giấc muộn la đà bến sông.
Chùa Hàn trầm bổng hồi chuông.
Nửa đêm gọi khách bềnh bồng Cô Tô.

Trên đây chỉ là một vài tiếng chuông tiêu biểu kim cổ đó đây mà tôi biết được và nảy sinh niềm cảm khái với nó. Hẳn nhiên là còn hằng hà sa số tiếng chuông khác mà tôi chưa có cơ hội được nghe, vì vậy không tránh khỏi điều khiếm khuyết. Nhưng dù thế nào, nói tóm lại, nhân thế cổ kim đã gióng lên rất nhiều hồi chuông trầm bổng, người gióng chuông và người nghe không ai giống ai nhưng âm điệu bổng trầm của tiếng chuông thì muôn đời không khác.Tâm hồn của nhân gian cao khiết khinh an thì tiếng chuông là một âm giai thanh nhã dẫn đưa tới con đường giải thoát. Tâm hồn đầy si mê sân hận lọc lừa thì tiếng chuông là một âm thanh lanh lảnh dụng công thức tỉnh vô minh. Khi ông Huỳnh Trung Chánh viết rằng: “Tuy thiền tông tuyên bố là ” bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền” và phủ nhận mọi hình thức lễ bái, mà tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng khánh, tiếng tụng niệm, tiếng hét… của chư thiền tổ đều hàm chứa một diệu dụng vô song. Theo sơ tổ, rung động của âm thanh có thể tạo nên những sự rung động sâu xa nơi tâm thức. Âm điệu tán tụng đúng mức có diệu dụng thức tỉnh kẻ mê đắm dục lạc, hóa giải tham sân si, trao truyền an lạc. Nhịp mõ khoan thai phá tan loạn động, hồi trống dồn dập triển khai tinh tấn, và tiếng chuông thanh thoát nhiệm mầụ Âm ba đặc thù của tiếng chuông : ngân nga, bàng bạc, trầm sâu, xoáy chuyển, có công năng thẩm thấu tận đáy nguồn tâm thức, vừa cao vút thông suốt tam thiên, vừa xuyên thủng cõi u minh địa ngục. Điều đó đã giải thích tại sao, tiếng thác đổ ầm ỉ, tiếng trời long đất lở, tiếng trống kèn rầm rập của ba quân… không lay chuyển chư thiền sư trong cơn đại định, nhưng một tiếng chuông nhỏ lại có diệu dụng thức tỉnh vị ấỵ..” Trong truyện ngắn Tan Loãng Trong Mây ắt hẳn ông đã chiêm nghiệm được diệu lý đó.

Và như thế,mặc ai nghe ai không nghe, tiếng
chuông vẫn làm đủ bổn phận của nó, vẫn hy vọng rằng một sớm một chiều nào đó mọi người đều nghe ra tiếng bổng trầm nhu nhã làm chấn động tâm tư và người ta sẽ nhớ ngẩn nhớ ngơ khi không gian vắng bặt tiếng chuông.

Cuối cùng xin mượn 4 câu thơ của Thiền Sư Viên Học thời nhà Lý để kết thúc bài viết tản mạn lan man nàỵ

聞鐘

六識常昏終夜苦
無明被覆久迷慵
晝夜聞鐘開覺悟
懶神靜卻得神通

Văn chung

Lục thức thường hôn chung dạ khổ,
Vô minh bị phú cửu mê dung.
Trú dạ văn chung khai giác ngộ,
Lãn thần tĩnh khước đắc thần thông

(Viên Học Thiền Sư)

Nghe chuông(*)

Sáu trần ám ảnh khổ đêm trường
Tối tăm che lấp mãi mơ mòng
Nghe chuông sớm tối lòng khai mở
Hết lười thì sẽ được thần thông

Hạt Cát